Bản án 12/2018/HSST ngày 23/03/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 12/2018/HSST NGÀY 23/03/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Hôm nay, ngày 23 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thu lý số: 06/2018/HSST ngày 02/02/2018 đối với bị cáo:

Phạm Đăng C; Sinh năm: 1965 tại Bình Phước; HKTT: Khu phố Ninh Thành, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam -  Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 7/12; Cha: Phạm Đăng H (chết); Mẹ: Trần Thị H1, sinh năm: 1941; Bị cáo có 03 chị em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại:

Nguyễn Tiểu P, sinh năm 1995 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Tiểu P:

- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964

HKTT: Khu phố T, thị trấn N, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Có mặt tại phiên tòa

-   Bà Phạm Thị V, sinh năm 1964

HKTT: Khu phố T, thị trấn N, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước

Có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 09/3/2017, Phạm Đăng C điều khiển mô tô biển số: 93H8 – 7266 đi từ thị trấn N về xã T. Khi đi đến đoạn đường thuộc khu phố T1, thị trấn N, lúc này Phạm Đăng C điều khiểm xe mô tô chuyển hướng sang bên trái đường để về nhà do Phạm Đăng C không quan sát đường để nhường đường cho xe chạy ngược chiều nên đụng vào xe mô tô biển số: 93F1-278.78 do Nguyễn Tiểu P điều khiển trên xe chở Nguyễn Văn Thành T. Hậu quả Phạm Đăng C và Nguyễn Văn Thành T bị thương tích nhẹ, còn Nguyễn Tiểu P bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy Thành Phố Hồ Chí Minh đến ngày 11/3/2017 thì tử vong (BL:60 – 61A; 71 – 72).

Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 09/3/2017 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh thì hiện trường để lại những dấu vết như sau:

Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường nhựa bề rộng mặt đường là 12,2m, đường bằng phẳng không cong cua, cách hiện trường 28,8m có ngã tư và biển báo ngã tư.

Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

(1) Xe mô tô JASPER màu đỏ biển số 93H8-7266, (2) xe mô tô hiệu Sirius màu xanh đen biển số 93F1-278.78; (3), (4), (5) vết cà dài trên đường; (6) vết máu; (7) vết nhớt; (8), (9), (15) dép; (10) dè trước, lò xo phuộc trước; (11) kiếng đèn trước; (12), (14) nón bảo hiểm; (13) chóa đèn xe mô tô. Quá trình khám nghiệm hiện trường lấy tim đường và lấy cột điện số 87, góc ngã tư bên phải hướng thị xã Bình Long đi Lộc Ninh làm chuẩn.

Mô tả theo số thứ tự vị trí phương tiện, tang vật, dấu vết:

1. Xe mô tô biển số 93H8-7266 ngã nằm bên phải, tâm trục bánh trước cách tâm đường nhựa 4,2m, tâm trục bánh sau cách tâm đường nhựa 4,65m.

2. Xe mô tô biển số 93F1-278.78 ngã nằm bên phải, tâm trục bánh trước cách tâm đường nhựa 4,35m, tâm trục bánh sau cách tâm đường nhựa 4,6m.

3. Vết cà dài 0,1m đầu vết cà cách tâm đường nhựa 4,35m.

4.  Vết cà dài 0,2m đầu vết cà cách tâm đường nhựa 4,4m.

5. Vết cà dài 0,1m đầu vết cà cách tâm đường nhựa 4,5m. Cuối vết cà số 5 cách đầu vết cà số 3 có tổng chiều dài 2m (vết cà 3, 4, 5)

6. Vết máu kích thước 1,4m x 0,3m đầu vết máu cách tâm đường nhựa 4,6m, cách trục bánh sau xe mô tô số 2 là 1m. Đuôi vết máu cách tâm đường nhựa là 3,6m

7.  Vết nhớt cách tâm đường nhựa 4,3m

8.  Dép cách tâm đường nhựa 4,6m

9.  Dép cách tâm đường nhựa 5,3m

10. Dè trước, lò xo phuộc trước cách tâm đường nhựa 5m

11. Kiếng đèn trước cách tâm đường nhựa 5,3m

12. Nón bảo hiểm cách tâm đường nhựa 6,1m

13. Chóa đèn xe mô tô cách tâm đường nhựa 5,7m

14. Nón bảo hiểm cách tâm đường nhựa 3,5m

15. Dép cách tâm đường nhựa 4,3m

Tâm trục bánh xe trước của xe mô tô biển số 93H8-7266 cách tâm trục bánh xe trước xe mô tô biển số 93F1-278.78 là 0,7m và tâm trục bánh sau hai xe là 2m. Tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 93F1-278.78 cách cột điện số 87 là 35,9m. Tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 93H8-7266 cách góc ngã tư là 28,8m (BL: 16 – 17).

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Xe mô tô biển số 93H8-7266: Gãy rời hai phuộc trước, bể hoàn toàn dè trước, bể hoàn toàn đèn chiếu sáng, bề bàn thờ trên dưới, bể đồng hồ công tơ mét, cong cần thắng về phía sau.

Xe mô tô biển số 93F1-278.78: Bể kiếng chiếu hậu trái, cong phuộc trước bên phải, bể ½ dè trước, trầy kiếng đèn chiếu sáng, cong cần thắng, trầy mặt nạ trước, cổ xe bị cong về phía sau, cong niềng trước (BL: 28 – 31).

Căn cứ biên bản kiểm tra nồng độ cồn số: 00838 ngày 09/3/2017 của Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Lộc Ninh thì Phạm Đăng C có kết quả kiểm tra qua máy đo nồng độ cồn là 0,301 miligam/lít khí thở (BL: 53 – 53A).

Căn cứ biên bản kiểm tra nồng độ cồn số: 00837 ngày 09/3/2017 của Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Lộc Ninh thì Nguyễn Tiểu P có kết quả kiểm tra qua máy đo nồng độ cồn là 0,135 miligam/lít khí thở (BL: 51 – 52).

Căn cứ vào kết luận giám định số: 93/2017/GĐPY ngày 13/3/2017 của Bác sỹ Pháp y Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Tiểu P bị ngoại lực tác động gây chấn thương vỡ xương sọ, dập não dẫn đến tử vong (BL: 39).

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 09/4/BBKL.ĐGTS ngày 20/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện Lộc Ninh xác định giá trị thiệt hại của xe mô tô Sirius biển số 93F1-278.78 thiệt hại là 1.335.000 đồng (Một triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 93H8-7266 của Phạm Đăng C và 01 xe mô tô biển số 93F1-278.78 của  Nguyễn Tiểu P.

Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số 93F1-278.78 cho ông Nguyễn Văn Long là đại diện của Nguyễn Tiểu P (BL: 49 – 50).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số: 07/CTr-VKS ngày 01/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Phạm Đăng C về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 202 BLHS; điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 33 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009

Xử phạt bị cáo: Phạm Đăng C từ 0đến 04 năm tù

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ các Điều 42 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, Điều 106 BLTTHS năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử:

Trả lại cho Phạm Đăng C 01 xe mô tô biển số 93H8-7266

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại Nguyễn Tiểu P yêu cầu bồi thường gồm: Tiền viện phí, tiền xây mộ, tiền quan tài, chi phí ma chay, tiền sửa xe tổng cộng số tiền là 105.000.000 đồng. Bị cáo Phạm Đăng C đã bồi thường được số tiền là 12.000.000 đồng và đồng ý tiếp tục bồi thường số tiền 93.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa gia đình bị hại với bị cáo, buộc bị cáo C có nghĩa vụ bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 93.000.000 đồng.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà xét xử công khai hôm nay bị cáo đã hoàn toàn thú nhận hành vi phạm tội của mình gây ra, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận điều tra, cáo trạng và kết luận của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa nên có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 09/3/2017 tại khu phố T1, thị trấn N, huyện N, tỉnh Bình Phước, Phạm Đăng C đã có hành vi điều khiển mô tô biển số: 93H8 –7266 chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn nên đã va chạm vào xe mô tô biển số: 93F1-278.78 do Nguyễn Tiểu P điều khiển gây tai nạn. Hậu quả làm Nguyễn Tiểu P tử vong. Căn cứ vào kết luận giám định số: 93/2017/GĐPY ngày 13/3/2017 của Bác sỹ Pháp y Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Tiểu P bị ngoại lực tác động gây chấn thương vỡ xương sọ, giập não dẫn đến tử vong. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được pháp luật, biết rõ xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, biết rõ hành vi điều khiển xe chuyển hướng không đảm bảo an toàn có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng mà không lường trước được. Nhưng do chủ quan và xem thường pháp luật nên bị cáo đã gây tai nạn, hậu quả dẫn đến chết người. Căn cứ biên bản kiểm tra nồng độ cồn số: 00838 ngày 09/3/2017 thì nồng độ cồn trong hơi thở của bị cáo là 0,301 miligam/lít khí thở, vượt quá mức cho  phép  theo quy định  tại khoản 8  Điều 8 Luật giao thông đường bộ là 0,25 miligam/1 lít khí thở nên bị cáo phải chịu thêm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 BLHS là “Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự an toàn công cộng, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ Luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của người bị hại để khắc phục hậu quả. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trác nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ Luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại Nguyễn Tiểu P yêu cầu bị cáo bồi thường tiền viện phí, tiền xây mộ, tiền quan tài, chi phí ma chay, tiền sửa xe tổng cộng số tiền là 105.000.000 đồng. Bị cáo Phạm Đăng C đã bồi thường được số tiền là 12.000.000 đồng và đồng ý tiếp tục bồi thường số tiền 93.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa gia đình bị hại với bị cáo, buộc bị cáo C có nghĩa vụ bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 93.000.000 đồng.

[5] Về tang vật vụ án: Trả lại cho Phạm Đăng C 01 xe mô tô biển số 93H8-7266 là tài sản hợp pháp của bị cáo C nên cần trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng C phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

1) Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ Luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009;

Xử phạt bị cáo Phạm Đăng C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 BLHS; Điều 591 Bộ luật dân sự 2015; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa đại diện hợp pháp của n bị hại với bị cáo Phạm Đăng C về số tiền bồi thường, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị V số tiền 93.000.000 đồng.

“Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015”.

3/ Về tang vật vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ Luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Trả lại cho Phạm Đăng C 01 xe mô tô biển số 93H8-7266 Xe mô tô hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 0006546 ngày 22/3/2018

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Đăng C phải chịu 200.000đồng án phí HSST và 4.650.000 đồng tiền án phí DSST

Trong trường hợp bản án được thi hành quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Báo cho bị cáo; đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước để xét xử theo trình tự phúc thẩm.


62
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/HSST ngày 23/03/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

Số hiệu:12/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lộc Ninh - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/03/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về