Bản án 12/2018/HS-ST ngày 23/01/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 12/2018/HS-ST NGÀY 23/01/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 01 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 262/2017/HSST ngày 21/12/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/QĐXXST-HS ngày 09/01/2018 đối với bị cáo:

Trần Minh T; Giới tính: Nam; sinh năm: 1989 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: phường 10, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Minh S và bà Đỗ Thị Kim H; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 17/9/2017.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Minh S, trú tại: phường 10, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 16 giờ ngày 17/9/2017, Công an phường 05, quận Gò Vấp kiểm tra bắt quả tang Trần Minh T đang cất giấu bịch bánh tráng có chứa bịch nylon chứa tinh thể rắn không màu trong túi quần bên phải (T khai là ma túy) tại trước nhà địa chỉ: đường số 14, phường 05, quận Gò Vấp nên đưa về Công an phường 05, quận Gò Vấp lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại bản kết luận giám định số: 1554/KLGĐ-H ngày 12/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh T và hình dấu Công an phường 05, quận Gò Vấp là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,8318 gram (hai phẩy tám ba một tám gram), loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Minh T khai nhận: khoảng 15 giờ ngày 17/9/2017, T đang ở nhà tại địa chỉ: xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn thì có đối tượng tên H (không xác định được lai lịch) dùng số điện thoại 0902767XXX gọi vào số di động của T là 0902303XXX kêu T xuống đường Phan Văn Trị thuộc quận Gò Vấp để nhận 01 bịch ma túy tổng hợp (hàng đá) đi bán cho đối tượng nghiện với số tiền 2.900.000 đồng, bán xong H sẽ trả công cho 100.000 đồng thì T đồng ý. T điều khiển xe gắn máy biển số 59E1-53679 chạy đến khu vực đường Phan Văn Trị thì gặp một thanh niên (không xác định được lai lịch, người này nói là bạn của H). Tại đây, thanh niên này đưa cho T 01 bịch bánh tráng trộn bên trong có bịch ma túy cùng số điện thoại của người mua để T liên lạc bán lại. T nhận bịch bánh tráng bên trong có ma túy cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy đến trước nhà số 30 đường số 14, phường 05, quận Gò Vấp thì bị Công an kiểm tra và bắt quả tang như đã nêu trên. T khai bản thân nghiện ma túy từ khoảng tháng 3/2017 đến nay và đã bán ma túy cho H được hai lần: Lần 1 vào ngày 10/9/2017 T nhận từ H 01 bịch nylon chứa ma túy tổng hợp (hàng đá) rồi đi bán cho một thanh niên (không xác định được lai lịch) với giá 2.900.000 đồng và H đã trả công cho T 100.000 đồng, T đã tiêu xài hết;

Lần thứ hai thì bị bắt giữ như đã nêu trên.

Đối tượng tên H là người đưa ma túy cho T đi bán do chưa xác định được lai lịch nên không có căn cứ xử lý, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Hai số điện thoại di động là 0902767XXX và 0983697XXX T khai là số của H và nam thanh niên mua ma túy. Cơ quan điều tra đã có Công văn gửi đến Công ty điện thoại Mobifone và Công ty Viettel để đề nghị cung cấp thông tin lai lịch của chủ thuê bao nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả.

Vật chứng thu giữ của T:

- 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn có khối lượng 2,8318 gram, loại Methamphetamine.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202, số sim 0902303549; 01 điện thoại di động hiệu Philip không sim.

- Số tiền 3.500.000 đồng tiền NHNNVN.

- 01 xe máy biển số 59E1-53679, số khung: EY-026818, số máy: A32E-1052078. Qua xác minh xe này do ông Trần Minh S (sinh năm: 1963, nơi ĐKHKTT: Trương Quốc Dung, phường 10, quận Gò Vấp) là chủ sở hữu xe (ông S là cha ruột của T). Ông S khai nhận ngày 17/9/2017 cho T mượn xe đi làm sau đó T xử dụng xe đi bán ma túy thì ông S không biết. Cơ quan điều tra đã trả xe cho ông S.

Các vật chứng trên Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho số 668/PNK ngày 20/9/2017.

Tại bản cáo trạng số 10/Ctr-VKS ngày 20/12/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự 1999.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử

- Xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh T và hình dấu Công an phường 05, quận Gò Vấp.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202, số sim 0902303549.

- Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 100.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Philip không sim và số tiền 3.500.000 đồng.

- Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Trần Minh T đã khai nhận hành vi Mua bán trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2]Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Trần Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điều 194 Bộ luật hình sự.

[3]Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận đã bán ma túy giùm cho H được 02 lần, lần 01 bị cáo được H trả công 100.000 đồng, lần 02 bị cáo chưa bán được số ma túy H đưa cho thì bị bắt, mặt dù bị cáo thừa nhận mua bán ma túy 2 lần nhưng do chưa xác định được người mua của T nên không thể xác định bị cáo phạm tội nhiều lần nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự là có cơ sở.

[4]Mặc dù bị cáo nhận thức được việc mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng do lười lao đồng, cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo vẫn ngang nhiên mua bán trái phép chất ma tuý, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Vì vậy, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ việc mua bán ma túy phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[5]Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[6]Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định phạt bị cáo mức thấp nhất là 5.000.000 đồng.

[7]Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh T và hình dấu Công an phường 05, quận Gò Vấp, bên trong chứa tinh thể rắn không màu có trọng lượng 2,8318 gram loại Methamphetamine là chất Nhà nước cấm lưu hành và sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ;

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202, số sim 0902303549 là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc vào việc mua bán ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước;

- Đối với số tiền 100.000 đồng bị cáo thu lợi từ việc mua bán ma túy, Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại số tiền trên để sung quỹ nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Philip không sim và số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng) là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

- Đối với chiếc xe gắn máy biển số 59E1-53679 do ông Trần Minh S đứng tên, ông S khai nhận ngày 17/9/2017 T mượn xe đi làm sau đó xử dụng vào việc mua bán ma túy ông không biết. Cơ quan điều tra đã trả cho ông chiếc xe trên là đúng theo qui định của pháp luật, tại phiên tòa hôm nay ông không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Đối tượng tên H do chưa xác định được lai lịch nên không có cơ sở xử lý, khi nào xác định sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Xử phạt bị cáo Trần Minh T 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 17/9/2017.

Áp dụng khoản 5 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999;

- Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Minh T và hình dấu Công an phường 05, quận Gò Vấp.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202, số sim 0902303549;

- Trả lại cho bị cáo số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Philip không sim;

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 668/PNK ngày 20/9/2017 của Công an quận Gò Vấp).

- Buộc bị cáo nộp lại số tiền 100.000 để sung quỹ nhà nước.

Áp dụng Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự;

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo không nộp lại số tiền phạt và số tiền thu lợi bất chính nêu trên để sung quỹ Nhà nước thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Việc Thi hành án được thi hành tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


50
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về