Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 19/01/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 12/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/01/2018 VỀ LY HÔN

Trong ngày 19 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 320/2017/TLST-HNGĐ ngày 12/10/2017 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/01/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: số 307, khu phố 5, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: anh Trần Ngọc H, sinh năm 1986 (vắng mặt) Địa chỉ: ấp M, xã Đ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 14/11/2017 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày: sau thời gian tìm hiểu, chị P và anh H tiến đến hôn nhân vào năm 2004, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang ngày 13/7/2010. Sau khi kết hôn thì anh H về sống với gia đình chị P tại thành phố R. Anh, chị sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân anh H thường xuyên ăn nhậu, đánh bạc, ghen tuông vô cớ. Vì thương chồng và muốn duy trì hạnh phúc gia đình nên chị đã nhiều lần giải thích, động viên cho anh H thay đổi để lo làm ăn và nuôi dạy con, nhưng anh H vẫn không thay đổi. Đến tháng 6 năm 2012 thì anh H bỏ nhà đi. Khoảng một năm sau, chị nghe người thân nói lại là anh H đang làm thuê ở Bình Dương và đã có vợ khác. Từ khi đi đến nay, anh H không liên lạc với mẹ con chị. Nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, thời gian sống ly thân đã lâu, không còn tình cảm với anh H nên chị P yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về quan hệ con chung: chị P với anh H có 01 con chung tên Trần Thị Huỳnh N, sinh ngày 09/7/2005. Sau khi ly hôn, chị P yêu cầu được nuôi cháu N; không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Về phía bị đơn anh Trần Ngọc H: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh H, nhưng anh đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Ngọc H có địa chỉ tại ấp M, xã Đ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Trần Ngọc H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; đồng thời tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, anh H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

[3] Về nội dung: chị Nguyễn Thị P với anh Trần Ngọc H chung sống với nhau từ năm 2004, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, được UBND phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 70, quyển số I/2010, ngày 13/7/2010. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[4] Xét, yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị P: chị P với anh H chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu. Đến năm 2012 xảy ra mâu thuẫn, chị P cho rằng anh H thường xuyên uống rượu, cờ bạc, không quan tâm đến vợ con nên từ đó dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng trong cuộc sống và đã sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Về phía anh H, kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H, tạo điều kiện cho anh hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị P. Tuy nhiên, anh H không đến tham gia phiên hòa giải và cũng không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị P. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị P với anh H mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị P.

[5] Về quan hệ con chung: chị P với anh H có 01 con chung tên Trần Thị Huỳnh N, sinh ngày 09/7/2005. Sau khi ly hôn, chị P yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của các con chưa thành niên; cháu N đang sống chung với chị P và được học hành ổn định. Đồng thời, tại biên bản lấy lời khai ngày 14/11/2017 thì nguyện vọng của cháu N muốn được ở chị P. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của N, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị P, giao cháu N cho chị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trần Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết thì chị P, anh H có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: không có.

[7] Do chị Nguyễn Thị P yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P.

- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Trần Ngọc H.

- Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Trần Thị Huỳnh N, sinh ngày 09/7/2005.

+ Giao cháu Trần Thị Huỳnh N cho chị Nguyễn Thị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (hiện cháu N đang sống chung với chị P).

+ Anh Trần Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về quan hệ tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: ghi nhận chị Nguyễn Thị P xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Nguyễn Thị P và anh Trần Ngọc H vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000591 ngày 12/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


59
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 19/01/2018 về ly hôn

Số hiệu:12/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về