Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 03/05/2018 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH HÀ GIANG

BẢN ÁN 12/2018/HNGĐ-ST NGÀY 03/05/2018 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 03 tháng 5 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2017/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2017 về việc "Ly hôn và tranh chấp nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 427/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T – Sinh năm: 1985.

Nghề nghiệp: Buôn bán; Dân tộc: Tày.

Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện X, tỉnh Hà Giang.

Hôm nay vắng mặt (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn Thành – Sinh năm: 1976.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Dân tộc: Kinh.

Địa chỉ: Tổ 10, thị trấn B, huyện A, tỉnh Hà Giang.

Hôm nay vắng mặt (Đã được triệu tập hợp lệ 02 lần).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 24-11-2017 của nguyên đơn và các lời khai tại Tòa án là chị Hoàng Thị T trình bày: Chị T và anh T trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 01 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân B, huyện A, tỉnh Hà Giang. Sau khi kết hôn, chị T và anh T chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thu n là do cuộc sống gia đình có nhiều điều bất đồng trong làm ăn kinh tế, cuộc sống không hòa thuận, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Chị T và anh T đã sống ly thân với nhau từ tháng 8-2017 cho đến nay. Chị T xét thấy tình cảm của vợ, chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục nữa nên có quan điểm yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T ly hôn với anh T để mỗi người có một cuộc sống riêng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị T và anh T có một con chung: Cháu Hoàng Như Q – Sinh ngày: 01-02-2017.

Hiện tại, cháu Q đang ở với chị T. Chị T có nguyện vọng sau khi ly hôn, chị sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q đến khi cháu Q trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị T không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu Q.

Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết. Toà án đã tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành các bước theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với anh Phạm Văn T nhiều lần nhưng anh T không đến Tòa án để làm việc. Ngày 29-3-2018, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương ở Tổ trưởng tổ 10, thị trấn B, huyện A, tỉnh Hà Giang và ông Phạm Văn N – Là bố đẻ của anh Phạm Văn T. Qua xác minh cho thấy, anh Phạm Văn T đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án và hiện tại vẫn đang có mặt tại địa phương. Mâu thuẫn gia đình chị T và anh T là do anh T chơi cờ bạc, không chăm lo đến gia đình. Tòa án không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được vì các đương sự vắng mặt (Đã được triệu tập hợp lệ 02 lần). Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa ngày hôm nay: Chị Hoàng Thị T có đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 29-01-2018. Chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử công bố toàn bộ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, đơn xin giải quyết vắng mặt của chị Hoàng Thị T và các tài liệu kèm theo. Chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là xin ly hôn với anh T.

Về phần con chung: Chị Hoàng Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu và đề nghị Tòa án giao cháu Hoàng Như Q cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Q trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị T không yêu cầu anh Thành cấp dưỡng nuôi cháu Q.

Về tài sản chung và công nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A về việc giải quyết vụ án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc Ly hôn và tranh chấp nuôi con của chị Hoàng Thị T đối với anh Phạm Văn T.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Hoàng Thị T và anh Phạm Văn T ly hôn.

3. Về con chung: Giao cháu Hoàng Như Q – Sinh ngày: 01-02-2017 cho chị Hoàng Thị T – Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện X, tỉnh Hà Giang trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Hoàng Như Q trưởng thành, đủ 18 tuổi kể từ ngày 03-5-2018.

Anh Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi cháu Q và có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

4.Về tài sản, công nợ: Chị T và anh T không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

5. Về án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng dân sự: Chị Hoàng Thị T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện A giải quyết việc hôn nhân của chị và anh T. Theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Hà Giang. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai và tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Phạm Văn T xác lập quan hệ vợ ch ng với nhau theo đúng các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 04-01-2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện A, tỉnh Hà Giang nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi về chung sống với nhau, vợ ch  ng chung sống hạnh phúc được khoảng 06 tháng thì phát sinh mâu thu n. Lý do mâu thu n là do vợ, ch ng có nhiều quan điểm bất đ ng, trái ngược nhau trong công việc làm ăn kinh tế, cuộc sống không hòa thuận, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Anh T chơi cờ bạc, không chăm lo đến gia đình. Chị T và anh T đã sống ly thân với nhau từ tháng 8-2017 cho đến nay. Mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T có đơn xin ly hôn với anh T. Tòa án nhận thấy về tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T cuộc sống chung không hoà hợp, anh T chơi cờ bạc, không chăm lo đến gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị T có quan điểm đề nghị Tòa án giao cháu Hoàng Như Q– Sinh ngày: 01-02-2017 cho chị T nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q đến khi cháu Q trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu Q.

Tòa án xét thấy nguyện vọng của chị T là phù hợp, để đảm bảo được cuộc sống cho cháu Q, cần phải giao cháu Hoàng Như Q cho chị Hoàng Thị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Hoàng Như Q trưởng thành, đủ 18 tuổi kể từ ngày 03-5-2018.

Chị T không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu Q. Anh T có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về tài sản, công nợ: Chị T và anh T không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Hoàng Thị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị T và anh Phạm Văn T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Khoản 1 Điều 81; Khoản 1, khoản 3 Điều 82; Khoản 2 Điểu 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 1 Điều 35;  Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện: Về việc Ly hôn và tranh chấp nuôi con của chị Hoàng Thị T đối với anh Phạm Văn T.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Hoàng Thị T và anh Phạm Văn T ly hôn.

3. Về con chung: Giao cháu Hoàng Như Q – Sinh ngày: 01-02-2017 cho chị Hoàng Thị T – Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện X, tỉnh Hà Giang trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Hoàng Như Q trưởng thành, đủ 18 tuổi kể từ ngày 03-5-2018.

Anh Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi cháu Q và có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 01754 ngày 15 tháng 12 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Hà Giang (Chị T đã nộp đủ tiền án phí).

5. Quyền kháng cáo: Báo cho chị Hoàng Thị T và anh Phạm Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7; Điều 7a; Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 03/05/2018 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

Số hiệu:12/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Văn Chấn - Yên Bái
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:03/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về