Bản án 12/2018/HNGĐ-PT ngày 03/07/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 12/2018/HNGĐ-PT NGÀY 03/07/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 03 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2018/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2018 về việc ly hôn.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2018/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 4 năm 2018 của Toà án nhân dân quận F, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1285/2018/QĐ-PT ngày 18 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lý Khắc A, sinh năm 1971; nơi cư trú: Số nhà C Khu D, phường E; quận F, thành phố Hải Phòng; có mặt;

- Bị đơn: Chị Vũ Thị Diệu G, sinh năm 1976; nơi cư trú tại: Số nhà C Khu D, phường E; quận F, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người kháng cáo: Anh Lý Khắc A là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 04/10/2017 và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm nguyên đơn anh Lý Khắc A trình bày: Anh A và chị G kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận H (nay là quận F), thành phố Hải Phòng vào năm 1996. Quá trình chung sống vợ chồng vui vẻ, hòa thuận đến 10/2012 thì phát sinh mâu thuẫn và trầm trọng từ năm 2015 cho đến nay. Nguyên nhân chính là do công việc anh A hay phải xa nhà nên có quan hệ ngoại tình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng. Hiện tại anh A và chị G đã sống ly thân, do vậy, anh A làm đơn yêu cầu được ly hôn với chị G. Về con chung: Anh A, chị G có hai con chung là Lý Minh I, sinh ngày 09/02/1997 và Lý Hoàng K, sinh ngày 21/01/2006. Khi ly hôn, anh A đồng ý để chị G nuôi con chung Lý Hoàng K vì anh A không có điều kiện chăm sóc. Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung anh A sẽ thỏa thuận với chị G. Con chung Lý Minh I đã trưởng thành nên không có yêu cầu. Về tài sản chung: Anh A, chị G tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai 04/10/2017, ngày 05/3/2018 và các văn bản khác có trong hồ sơ, bị đơn - chị G xác nhận mối quan hệ giữa chị G, anh A được xác lập và có hai con chung như anh A trình bày. Thời gian gần đây quan hệ giữa chị G và anh A có xích mích. Nguyên nhân chính là do anh A không còn chung thủy với chị G. Nhưng theo chị G đó chỉ là tình cảm nhất thời của anh A; tình cảm của chị G đối với anh A vẫn còn, chị sẵn sàng tha thứ cho anh A; các con chung vẫn cần có sự chăm sóc của anh A. Gia đình hai bên và các con chung đều mong muốn anh A nghĩ lại để vợ chồng có cơ hội đoàn tụ. Mâu thuẫn giữa chị G, anh A chưa sâu sắc đến mức không thể khắc phục. Vì vậy, chị G không đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của anh A và đề nghị Tòa án tạo cơ hội để vợ chồng chị G có khả năng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con chung. Về tài sản chung, chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 16/2018/HNGĐ-ST ngày 19/4/2018, Tòa án nhân dân quận F, thành phố Hải Phòng đã căn cứ các Điều 19, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 3, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lý Khắc A với Chị Vũ Thị Diệu G; về quan hệ con chung: Anh A, chị G xác nhận có 02 con chung là Lý Minh I, sinh ngày 09/02/1997 và Lý Hoàng K, sinh ngày 21/01/2006. Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh A nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết. Về quan hệ tài sản: Anh A, chị G không yêu cầu nên không giải quyết.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24 tháng 04 năm 2018, anh A kháng cáo bản án với lý do Tòa án bác yêu cầu ly hôn của anh A là không có căn cứ và chưa đúng với thực trạng gia đình anh A. Trên thực tế vợ chồng anh A đã ly thân gần một năm nay và hiện tại anh A không sống cùng với chị G.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Anh A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án chấp nhận kháng cáo cho anh A được ly hôn với chị G. Nếu ly hôn, anh A đồng ý để chị G được nuôi con chung là Lý Hoàng K, sinh ngày 21/01/2006; về tài sản chung anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị G đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm. Mâu thuẫn vợ chồng chị G chưa đến mức không thể khắc phục. Chị G vẫn còn tình cảm với anh A, sẵn sàng tha thứ và thay đổi những điều anh A chưa hài lòng đối với chị G để gia đình có cơ hội đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con cái. Do chị G đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh A nên không có yêu cầu về việc giải quyết con chung và tài sản chung.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm của Kiểm sát viên về giải quyết đối với bản án sơ thẩm bị kháng cáo: Qua các tài liệu xác minh, lời trình bày của các con chung và người thân anh A thấy rằng, mâu thuẫn giữa anh A và chị G chưa đến mức trầm trọng nên bản án sơ thẩm tuyên bác yêu cầu xin ly hôn của anh A là có căn cứ. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của anh A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án là ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền của Tòa dân sự phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Về nội dung kháng cáo:

[2] Anh A và chị G kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại phường L, quận H (nay là quận F), thành phố Hải Phòng vào năm 1996. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc và có hai con chung là Lý Minh I, sinh ngày 09/02/1997 và Lý Hoàng K, sinh ngày 21/01/2006. Nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Năm 2015, quan hệ giữa anh A và chị G phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc anh A làm đơn xin ly hôn với chị G. Nguyên nhân chính là do anh A có quan hệ với người phụ nữ khác. Chị G nhận thức đó chỉ là sai lầm nhất thời của anh A và vẫn còn tình cảm với anh A nên sẵn sàng tha thứ và mong muốn anh A nhìn nhận lại để vợ chồng cùng khắc phục mâu thuẫn, đoàn tụ nuôi dạy con cái. Các con chung của anh A, chị G, đại diện gia đình bên nội, bên ngoại và những người hàng xóm đều trình bày: Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa anh A, chị G là do anh A có quan hệ với người phụ nữ khác. Tuy vậy, họ cũng đánh giá mâu thuẫn giữa anh A, chị G chưa đến mức trầm trọng và vẫn còn khả năng khắc phục vì chị G sẵn sàng tha thứ cho anh A. Hội đồng xét xử thấy rằng, anh A, chị G kết hôn và chung sống với nhau được khoảng hai mươi năm. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng mới phát sinh khoảng hai năm nay. Nguyên nhân chính là do anh A không chung thủy, có quan hệ với người phụ nữ khác. Chị G, các con chung của chị G và anh A, đại diện hai bên gia đình đều mong muốn anh A, chị G khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Chị G sẵn sàng tha thứ cho anh A, vấn đề là anh A nhìn nhận được và mong muốn khắc phục thì gia đình anh A, chị G hoàn toàn có cơ hội đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh A, chị G chưa đến mức trầm trọng như quy định tại - Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên bản án sơ thẩm tuyên bác yêu cầu xin ly hôn của anh A là có căn cứ và việc tạo điều kiện về mặt thời gian để anh A, chị G khắc phục mâu thuẫn là cần thiết nên bác kháng cáo của anh A, giữ nguyên bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ nuôi con chung: Anh A, chị G xác nhận có hai con chung như nêu trên. Do hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh A đối với chị G nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Anh A và chị G không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

- Về án phí:

Về án phí sơ thẩm: Anh A phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của anh A không được chấp nhận nên anh A phải nộp án phí phúc thẩm quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn anh Lý Khắc A.

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lý Khắc A đối với Chị Vũ Thị Diệu G.

2. Về quan hệ con chung: Anh Lý Khắc A và Vũ Thị Diệu G xác nhận có hai con chung là: Lý Minh I, sinh ngày 09/02/1997 và Lý Hoàng K, sinh ngày 21/01/2006. Do không chấp yêu cầu xin ly hôn của anh Lý Khắc A đối với Chị Vũ Thị Diệu G nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

3. Về tài sản chung: Anh Lý Khắc A và Chị Vũ Thị Diệu G không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

4. Về án phí:

- Án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Lý Khắc A phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn. Anh Lý Khắc A đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu sô 6603 ngày 04 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hanh an dân sư quận F, thành phố Hai Phong. Anh Lý Khắc A đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

- Án phí phúc thẩm: Anh Lý Khắc A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là300.000 đông theo Biên lai thu sô 16237 ngày 08 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hanh an dân sư quận F, thành phô Hai Phong. Anh Lý Khắc A đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/HNGĐ-PT ngày 03/07/2018 về ly hôn

Số hiệu:12/2018/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 03/07/2018
Là nguồn của án lệ
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về