Bản án 120/2019/HNGĐ-ST ngày 27/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 120/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/05/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG

Ngày 27 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2019/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Diễm M, sinh năm 1992.

- Bị đơn: Anh Phạm Tấn V, sinh năm 1992.

Cùng trú tại: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Phạm Diễm M trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Tấn V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau, dẫn đến không còn hạnh phúc, yêu thương nhau nữa. Nay, nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn, không thể kéo dài nên yêu cầu xin ly hôn với anh V.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Phạm Bé D, sinh ngày 12/10/2012. Hiện cháu do chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đoan. Không yêu cầu anh V cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ: Chị xác định không có yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay, chị yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đối với bị đơn anh Phạm Tấn V: Khi thụ lý, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; giấy triệu tập; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh V vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Phạm Tấn V có nơi trú tại Huyện T, tỉnh Cà Mau; về quan hệ pháp luật là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chị M có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Vvắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên và bị đơn theo quy định.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên mối quan hệ hôn nhân của anh, chị được pháp luật công nhận và bảo vệ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị M yêu cầu ly hôn anh V, vì chị cho rằng cuộc sống vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không hạnh phúc. Hơn nữa, trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung và không thể hòa hợp trong cuộc sống. Đối với anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh V không có văn bản hay ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của chị M.

Xét, giữa chị M và anh V đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, cho chị M được ly hôn với anh V là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị M và anh V có 01 người con chung tên Phạm Bé D, sinh ngày 12/10/2012. Hiện cháu do chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đoan. Không yêu cầu anh V cấp dưỡng. Còn đối với anh V, vẫn không có văn bản gửi đến Tòa án nên không có cơ sở xem xét. Xét, con chung tên Phạm Bé D hiện đang sống chung với chị M, để ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Đoan cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị M xác định không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 235; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chị Phạm Diễm M được ly hôn với anh Phạm Tấn V.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Phạm Bé D, sinh ngày 12/10/2012 cho chị Phạm Diễm M trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh V không cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ: Chị Phạm Diễm M không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Diễm M đã dự nộp trước 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002768 ngày 26/02/2019 được chuyển thu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 120/2019/HNGĐ-ST ngày 27/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

Số hiệu:120/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về