Bản án 119/2018/HNGĐ-ST ngày 29/11/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 119/2018/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 468/2018/TLSTHNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2018, về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Triệu Thị Hoài P, sinh năm 1982.

Đăng ký hộ khẩu thường trú: đường N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Địa chỉ liên lạc: tổ1, thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng . Có mặt

Bị đơn: Ông Lâm Thành T, sinh năm 1977. Địa chỉ: đường N, Phường B, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án thành phố Đà Lạt và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Triệu Thị Hoài P trình bày: Bà và ông Lâm Thành T đăng ký kết hôn năm 2009 tại UBND Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng gia đình chồng tại: đường N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2012 thì vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, ông thường xuyên nhậu nhẹt, ham vui với bạn bè không có trách nhiệm với gia đình. Hiện vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay, nay bà xác định không còn tình cảm với ông T, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà và ông T được ly hôn.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lâm Triệu V, sinh ngày 19/5/2011. Hiện con đang ở với bà nên ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ tuổi thành niên theo quy định của pháp luật, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Lâm Thành T được Toà án triệu tập hợp lệ theo qui định của pháp luật nhưng không có mặt tại toà án để trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa, bà Triệu Thị Hoài P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt phát biểu ý kiến về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như của Hội đồng xét xử tại phiên tòa và của những người tham gia tố tụng.

Về yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Triệu Thị Hoài P, cho ly hôn giữa bà Triệu Thị Hoài P và ông Lâm Thành T. Giao con chung tên Lâm Triệu V, sinh ngày 19/5/2011cho bà Triệu Thị Hoài P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên. Việc ấp dưỡng nuôi con bà P không có tranh chấp nên không đề cập. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định;

 [1] Về quan hệ tranh chấp: Bà Triệu Thị Hoài P có đơn yêu cầu xin ly hôn với ông Lâm Thành T và yêu cầu nuôi con, ông Lâm Thành T được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt để trình bày ý kiến, nên xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Ông Lâm Thành T cư trú, sinh sống tại: đường N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a, khỏan 1 Điều 35, điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

 [2] Về tố tụng: Ông Lâm Thành T được triệu tập hợp lệ theo qui đinh của pháp luật nhưng không có mặt. Vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt.

 [3] Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Triệu Thị Hoài P và ông Lâm Thành T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng vào năm 2009 nên quan hệ hôn nhân giữa Triệu Thị Hoài Phương và ông Lâm Thành Tiến là tuân thủ đúng trình tự quy định của pháp luật. Theo bà Triệu Thị Hoài P qúa trình chung sống không hạnh phúc nguyên nhân do ông Lâm Thành T ham chơi bài, tụ tập bạn bè thường xuyên ăn nhậu và không có trách nhiệm với gia đình vợ con, từ 2012 đến nay vợ chồng sống ly thân, tình cảm không còn nên bà Triệu Thị Hoài P yêu cầu ly hôn. Về phía ông T được Tòa án triêu tập hợp lệ nhưng không có mặt là thể hiện thái độ không còn mong muốn hằn gắn tình cảm vợ chồng với bà P, không có trách nhiệm với gia đình. Với thực trạng của quan hệ hôn nhân thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng đối với nhau không còn, có kéo dài thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của bà P là có căn cứ, nên áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 cho ly hôn giữa bà Triệu Thị Hoài P và ông Lâm Thành T.

 [4] Về con chung: Giữa vợ chồng bà Triệu Thị Hoài P và ông Lâm Thành T có 01 con chung tên Lâm Triệu V, sinh ngày 19/5/2011, ly hôn bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không đến Tòa trình bày ý kiến. Xét con đủ 7 tuổi, Tòa án lấy lời khai cháu có nguyện vọng ở với mẹ nên chấp nhận yêu cầu của bà P, giao con cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên là phù hợp với qui định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con bà Triệu Thị Hoài P không yêu cầu ông Lâm Thành T cấp dưỡng nên không đề cập.

 [5] Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không đề cập.

 [6] Về án phí : Bà Triệu Thị Hoài Phương phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 56, 57, 58, 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1- Cho ly hôn giữa bà Triệu Thị Hoài Ph và ông Lâm Thành T.

2- Về con chung: Giao con chung tên Lâm Triệu V, sinh ngày 19/5/2011 cho bà Triệu Thị Hoài Phương trực tiếp nưôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên.

Quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3- Về án phí: bà Triệu Thị Hoài P phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (Được trừ vào số tiền tạm nộp án phí bà P đã nộp theo biên lai thu số AAA/2016/0008280 ngày 16/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ).

Bà Triệu Thị Hoài P có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh ông Lâm Thành T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. 


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 119/2018/HNGĐ-ST ngày 29/11/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:119/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đà Lạt - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về