Bản án 118/2020/DS-PT ngày 29/05/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 118/2020/DS-PT NGÀY 29/05/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 124/2020/TLPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2020 về việc: “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2020/DS-ST ngày 26/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 109/2020/QĐ-PT ngày 04 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Diệp Ty P, sinh năm 1974 (có mặt).

Cư trú: Ấp 7, xã T, huyện T, tỉnh C ..

- Bị đơn:

1. Ông Diệp Văn V, sinh năm 1972 (có mặt).

2. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1974 (có mặt).

Cùng cư trú Ấp 7, xã T, huyện T, tỉnh C ..

Người đại diện theo ủy quyền cho ông V, bà X: Ông Nguyễn Nhỏ, sinh năm 1952 (có mặt).

Trú tại: Ấp 18, xã B, huyện T, tỉnh C..

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1974 (có mặt).

Trú tại: Ấp 7, xã T, huyện T, tỉnh C ..

- Người kháng cáo: Ông Diệp Văn V, bà Nguyễn Thị X là Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn, Ông Diệp Ty P trình bày: Vào năm 2002, Ông P có cho vợ chồng anh ruột là ông Diệp Văn V, bà Nguyễn Thị X mượn nhiều lần số tiền 35.482.000 đồng để cất nhà. Việc cho mượn tiền, đôi bên không có làm giấy tờ, nhưng có cha mẹ, anh em trong gia đình đều biết. Ông P có đòi nhiều lần nhưng vợ chồng ông V không thừa nhận có mượn Ông P mà cho rằng số tiền này là của cha ruột là cụ Diệp Văn Thúc cho. Nay ông P yêu cầu ông V, bà Xuân trả khoản tiền mượn 35.482.000 đồng.

Ông Diệp Văn V và bà Nguyễn Thị X trình bày: Vào năm 2002, vợ chồng ông có cất nhà ở. Do thiếu tiền, nên cha ruột là cụ Thúc có kêu ông P bỏ tiền ra để mua vật liệu giúp vợ chồng ông cất nhà. Số tiền ông P bỏ ra là 35.482.000 đồng. Sau đó, cụ Thúc có nói là cho vợ chồng ông V số tiền nói trên. Vợ chồng ông không đồng ý thanh toán cho ông P 35.482.000 đồng.

Ông V thừa nhận chữ ký trong biên bản xác minh ngày 05/8/2019 là của ông Thúc. Tuy nhiên, vào thời điểm ký, cụ Thúc không còn minh mẫn, nên ông V không chấp nhận trình bày của cụ Thúc tại biên bản này. Cụ Thúc tuyên bố cho vợ chồng ông 35.482.000 đồng có chú ruột là ông Diệp Văn Phương chứng kiến.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2020/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình quyết định: Tuyên xử:

Buộc ông Diệp Văn V, bà Nguyễn Thị X cùng có nghĩa vụ thanh toán cho ông Diệp Ty P số tiền 35.482.000 (Ba mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi hai ngàn) đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 31/3/2020, Ông Diệp Văn V, bà Nguyễn Thị X có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm; yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Diệp Văn V và bà Nguyễn Thị X giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên toà:

Ông Nguyễn Nhỏ tranh luận: Ông P trình bày có mượn tiền nhưng không có giấy tờ gì chứng minh. Nay, ông V, bà X không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của ông P.

Ông Diệp Ty P tranh luận: Việc cho mượn tiền tuy không có giấy tờ nhưng có cha và anh em biết. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông V, bà X. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thời Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Ông Diệp Văn V, bà Nguyễn Thị X kháng cáo cho rằng: Cha ông, bà là cụ Diệp Văn Thúc có mua vật tư đem đến cho vợ chồng ông cất nhà với số tiền 35.482.000 đồng. Ông không có mượn tiền của ông P nên không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của ông P. Xét kháng cáo của ông V, bà X, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Ông V, bà X cho rằng: Cụ Thúc có mua vật tư cho Ông V, Bà X cất nhà. Tuy nhiên, tại biên bản hòa giải ngày 24 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, ông V, bà X trình bày: Cụ Thúc có kêu ông P bỏ tiền 35.482.000 đồng để mua vật liệu giúp ông V, bà X cất nhà. Như vậy, số tiền 35.482.000 đồng là tiền do ông P đưa cho ông V, chứ không phải cụ Thúc trực tiếp đưa cho ông V.

[3] Ông V, Bà X cho rằng: Cụ Thúc đã nói cho vợ chồng ông V 35.482.000 đồng. Nhưng tại Biên bản hòa giải ngày 12 tháng 9 năm 2019 của Ủy ban nhân dân xã Thới Bình, huyện Thới Bình, cụ Thúc trình bày: Số tiền trên, ông V mượn ông P thì phải trả. Như vậy, cụ Thúc cũng xác định số tiền 35.482.000 đồng là của ông P, không phải của cụ Thúc và ông P là người cho ông V vay tiền.

[4] Ông V, Bà X cho rằng: Vào ngày 05 tháng 8 năm 2019 khi ông Nguyễn Quốc Đa là Công an viên và ông Nguyễn Văn Đấu là Trưởng ấp 7, xã Thới Bình, huyện Thới Bình xác minh cụ Thúc; Ngày 12 tháng 9 năm 2019, Ủy ban nhân dân xã Thới Bình, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau hòa giải, cụ Thúc đã không còn minh mẫn nên trình bày không đúng. Ông V, bà X cho rằng cụ Thúc không còn minh mẫn nhưng Ông V, Bà X không có chứng cứ gì chứng minh cho trình bày của mình. Trong khi đó, các lời trình bày của cụ Thúc tại ấp 7 và tại Ủy ban nhân dân xã Thới Bình đều khai thống nhất: Ông V có mượn ông P số tiền 35.482.000 đồng.

[5] Ngoài ra ông V, bà X kháng cáo yêu cầu nếu Tòa án buộc ông V, bà X trả cho ông P số tiền 35.482.000 đồng thì Tòa án buộc ông P trả cho ông V, bà X 02 công đất tầm 3m. Tại cấp sơ thẩm, ông V, bà X không có yêu cầu vấn đề này nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở xem xét.

[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: ông V, bà X có vay của ông P số tiền 35.482.000 đồng nên phải trả cho ông P số tiền trên. Ông V, bà X kháng cáo cho rằng Ông V, Bà X không có vay tiền của ông P nên không đồng ý trả cho ông P 35.482.000 đồng và yêu cầu sửa toàn bộ án sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm số 09/2020/DS- ST ngày 26 tháng 2 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa là phù hợp.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông V, Bà X phải chịu số tiền 1.774.000 đồng. Ông P không phải chịu đã dự nộp được nhận lại. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông V, bà X phải chịu số tiền 300.000 đồng đã dự nộp, được đối trừ chuyển thu.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận kháng cáo của Ông Diệp Văn V và Bà Nguyễn Thị X Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 06/2020/DS-ST ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Ty P.

Buộc Ông Diệp Văn V, bà Nguyễn Thị X cùng có nghĩa vụ thanh toán cho ông Diệp Ty P số tiền 35.482.000 (Ba mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi hai ngàn) đồng.

Kể từ ngày ông Diệp Ty P có đơn yêu cầu thi hành án, ông Diệp Văn V, bà Nguyễn Thị X không thanh toán xong khoản tiền trên cho ông P, thì hàng tháng, ông V, bà X còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Diệp Văn V, bà Nguyễn Thị X phải chịu số tiền 1.774.000 (một triệu bảy trăm bảy mươi bốn ngàn) đồng. Ông Diệp Ty P không phải chịu. Ngày 11/02/2020, ông P có nộp tạm ứng số tiền 887.000 (tám trăm tám mươi bảy ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010956 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được nhận lại.

Về án phí phúc thẩm: Ông Diệp Văn V, bà Nguyễn Thị X phải chịu số tiền 300.000 đồng. Ngày 31/3/2020, ông V, bà X đã nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai số 0011086 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được đối trừ chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 118/2020/DS-PT ngày 29/05/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:118/2020/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/05/2020
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về