Bản án 118/2019/HS-ST ngày 22/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 118/2019/HS-ST NGÀY 22/10/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Đăng N, sinh ngày 01-6-2001 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng L và bà Hoàng Thị Ánh T; chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24-5-2019 cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1982; địa chỉ: 144/75 đường N, tổ dân phố 7, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Đinh Văn T1, sinh ngày 05-12-2002; địa chỉ: Thôn I, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Anh Lê Minh T2, sinh ngày 08-4-2003; địa chỉ: 32/47 đường L, tổ dân phố 3, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Anh Nguyễn Minh H, sinh ngày 01-9-2003; địa chỉ: Làng H, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Anh Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 03-12-2001; địa chỉ: Làng N, xã I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1979; địa chỉ: Làng N, xã I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Anh Hồ Trọng N, sinh năm 1999; địa chỉ: 13 đường Y, tổ dân phố 3, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Đinh Văn T1: Ông Đinh Văn T3, sinh năm 1978 và bà Ngô Thị Mỹ L, sinh năm 1978; địa chỉ: Làng C, xã K, huyện C, tỉnh Gia Lai (Là cha và mẹ đẻ của anh Đinh Văn T1). Ông T3 vắng mặt, bà L có mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Lê Minh T2: Ông Lê Văn T4, sinh năm 1977 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ: 32/47 đường L, tổ dân phố 3, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai (Là cha và mẹ đẻ của anh Lê Minh T2). Ông T4 vắng mặt, bà H có mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Minh H: Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1981 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1984; địa chỉ: Làng H, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (Là cha và mẹ đẻ của anh Nguyễn Minh H). Ông T5 vắng mặt, bà N có mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Tấn Đ: Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Hồng T; địa chỉ: Làng N, xã I, thành phố P, tỉnh Gia Lai (Là cha và mẹ đẻ của anh Nguyễn Tấn Đ). Ông C và bà T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Trên cơ sở kết quả điều tra, xác định được như sau:

Nguyễn Đăng N, Nguyễn Minh H, Lê Minh T2, Đinh Văn T1 và Trần Bá Đ có quan hệ bạn bè với nhau. Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 23-10-2018, sau khi cùng với Nguyễn Minh H dạo chơi ở Quảng trường Đ, thành phố P, Nguyễn Đăng N điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đen (chưa xác định được biển số) chở Nguyễn Minh H đi về. Khi đi đến đường L (đoạn đối diện nhà thờ T), Nguyễn Đăng N phát hiện có xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đỏ đen, biển số 81B2-195.68 đang dựng trên lề đường, nhưng không có người trông coi; đây là xe của bà Phạm Thị L. Nguyễn Đăng N nảy sinh ý định và rủ Nguyễn Minh H trộm cắp xe mô tô trên, thì Nguyễn Minh H đồng ý. Biết trong cốp xe mô tô mà mình đang điều khiển có tuốc-nơ-vít, nên Nguyễn Đăng N quay xe lại gần Quảng trường Đ, dừng lại mở cốp xe lấy tuốc-nơ-vít cầm trên tay rồi bảo Nguyễn Minh H điều khiển xe quay lại chỗ xe mô tô 81B2-195.68. Khi đến nơi, Nguyễn Minh H ngồi trên xe mô tô cảnh giới, để Nguyễn Đăng N dùng tuốc- nơ-vít phá khóa xe mô tô 81B2-195.68, nhưng không phá được khóa cổ xe. Nguyễn Minh H đi đến cùng với Nguyễn Đăng N dùng tay, chân bẻ phá khóa cổ xe mô tô 81B2-195.68, nhưng không khởi động được máy. Nguyễn Đăng N ngồi lên cầm lái mô tô 81B2-195.68, còn Nguyễn Minh H điều khiển xe mô tô (là phương tiện cả hai sử dụng trước đó) và dùng chân đẩy xe mô tô 81B2-195.68 cùng với Nguyễn Đăng N về gara C ở làng N, xã I, thành phố P, do ông Nguyễn Văn C làm chủ; ông C có quen biết với Nguyễn Đăng N và Nguyễn Minh H. Tại đây, Nguyễn Đăng N dùng dụng cụ của gara tháo ốp chắn gió, ống xả và biển số của xe mô tô 81B2-195.68 ra, gắn ống xả khác và 1 biển số có đầu số 82 (chưa xác định được số cụ thể của biển số này) vào, rồi cất giấu xe phía sau gara. Các phụ tùng và biển số 81B2-195.68 tháo ra, Nguyễn Đăng N vứt vào đống phế liệu của gara C. Sáng hôm sau (ngày 24-10-2018), Nguyễn Đăng N nói cho T2, T1 và Đ biết về việc cùng với Nguyễn Minh H trộm cắp xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius hiện đang để tại gara C. Sau đó, Nguyễn Đăng N cùng với T2, Nguyễn Minh H, Đ sử dụng xe mô tô trộm cắp được làm phương tiện đi lại. Khoảng 1 tuần sau (không xác định được ngày), Nguyễn Đăng N lắp lại ốp chắn gió và ống xả của xe 81B2-195.68 vào, nhưng không lắp lại biển số 81B2-195.68 mà vẫn để biển số 82 trên xe. Sau đó, Nguyễn Đăng N và Đ điều khiển xe mô tô trộm cắp (gắn biển số 82) đến thị xã A, tỉnh Bình Định chơi; Nguyễn Minh H, T2 và T1 cũng đến thị xã A, tỉnh Bình Định chơi cùng với Nguyễn Đăng N, Nguyễn Minh H, nhưng đi bằng xe ô tô khách. Trong thời gian ở thị xã A, do cần tiền để tiêu xài, nên Nguyễn Đăng N bán xe mô tô trộm cắp được cho anh Hồ Trọng N với giá 5.000.000 đồng; anh Hồ Trọng N đưa trước 4.500.000 đồng, còn nợ lại 500.000 đồng. Số tiền bán xe mà có, Nguyễn Đăng N cho Hồ Trọng N mượn 250.000 đồng, cho T1 mượn 250.000 đồng, còn lại Nguyễn Đăng N tiêu xài hết. Đến ngày 09-4-2019, Nguyễn Đăng N và Nguyễn Minh H ra đầu thú, khai nhận về hành vi trộm cắp xe mô tô 81B2-195.68 như nêu trên. Ngày 20-5-2019, khi biết xe mô tô mua của Nguyễn Đăng N là tài sản do trộm cắp mà có, anh Hồ Trọng N đã mang xe đến giao nộp cho Công an phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định. Xe mô tô trên, sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai để xử lý. Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã truy tìm, nhưng không thu giữ được biển số xe 81B2-195.68.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đăng N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

2. Các vấn đề khác:

Ngày 12-4-2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P ra yêu cầu định giá tài sản, tại Kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 57/KL-HĐĐG ngày 16-4-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận: Vào thời điểm ngày 23-10-2018, xe mô tô biển số 81B2-195.68, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đỏ đen, có giá trị 12.500.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đăng N không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận nêu trên.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản cáo trạng số: 125/CT-VKS ngày 19-8-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Đăng N về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đăng N và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i và s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 và Điều 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng N với mức án từ 6 tháng đến 9 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Bị cáo không có nghề nghiệp, việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Bị hại là bà Phạm Thị L đã nhận lại xe mô tô biển số 81B2- 195.68, Nguyễn Đăng N và Nguyễn Minh H đã bồi thường cho anh Hồ Trọng N 4.500.000 đồng nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đăng N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi sai trái của mình; khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên suy nghĩ chưa chín chắn, rất mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo đi học nghề và phụ giúp cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Xét thấy lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Đăng N phạm tội như sau:

Khong hơn 22 giờ 30 phút, ngày 23-10-2018, tại đường L, thuộc phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, lợi dụng sơ hở của bà Phạm Thị L khi để xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển số 81B2-195.68 ở lề đường nhưng không có người trông coi, Nguyễn Đăng N và Nguyễn Minh H đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô trên. Ngày 09-4-2019, N và Nguyễn Minh H ra đầu thú. Qua định giá, kết luận tại thời điểm ngày 23-10-2018, xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, biển số 81B2-195.68 có giá trị 12.500.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì muốn kiếm tiền một cách bất chính nên đã cố tình chiếm đoạt tài sản của bị hại. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P quyết định truy tố ra trước Tòa án để xét xử đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình với một hình phạt tương xứng.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm i và s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Khi phạm tội bị cáo Nguyễn Đăng N dưới 18 tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Do bị cáo Nguyễn Đăng N có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần xử phạt tù, cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về dân sự: Quá trình tham gia tố tụng, bị hại là bà Phạm Thị L đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu về việc bồi thường thiệt hại; Nguyễn Đăng N và Nguyễn Minh H đã bồi thường cho anh Hồ Trọng N 4.500.000 đồng, anh Hồ Trọng N không có yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết về vấn đề này.

[6] Về các vấn đề khác:

Đi với xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius màu đen, là phương tiện Nguyễn Đăng N chở Nguyễn Minh H đi trộm cắp xe mô tô 81B2-195.68 vào tối ngày 23-10-2018, qua điều tra xác định xe này là tài sản của người tên C (chưa xác định được nhân thân, địa chỉ); Nguyễn Tấn Đ mượn xe trên của C, sau đó cho Nguyễn Đăng N mượn lại để sử dụng. Xe trên hiện Đ đã trả lại cho C; Đ và Nguyễn Đăng N đều không nhớ biển số, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chưa có căn cứ xác minh, xử lý; Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào xác định được xe mô tô trên sẽ làm rõ để xử lý sau.

Đi với tuốc-nơ-vít mà Nguyễn Đăng N sử dụng phá khóa xe mô tô 81B2- 195.68 khi trộm cắp, sau đó Nguyễn Đăng N cất lại vào cốp xe mô tô Yamaha, loại xe Sirius màu đen mượn của Đ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không thu giữ được.

Đi với chiếc cờ-lê mà Nguyễn Đăng N sử dụng tháo ốp chắn gió, ống xả, biển số xe mô tô 81B2-195.68, sau đó Nguyễn Đăng N bỏ lại tại gara C; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã truy tìm, nhưng không thu giữ được.

Đi với biển số xe mô tô có đầu số 82 được Nguyễn Đăng N lắp vào xe mô tô 81B2-195.68 sau khi trộm cắp được, quá trình sử dụng xe, anh Hồ Trọng N đã làm rơi mất, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không thu giữ được; Nguyễn Đăng N và anh Hồ Trọng N đều không nhớ rõ biển số xe này, nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác minh.

Đi với Nguyễn Minh H, qua điều tra xác định: Khi cùng với bị cáo Nguyễn Đăng N thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô 81B2-195.68, thì Nguyễn Minh H chưa đủ 16 tuổi, nên hành vi của Nguyễn Minh H không cấu thành tội phạm. Công an thành phố P đã xử phạt hành chính đối với Nguyễn Minh H bằng hình thức cảnh cáo là đúng quy định của pháp luật.

Đi với Đinh Văn T1 và Lê Minh T2, qua điều tra xác định: T1 và T2 đều biết việc bị cáo Nguyễn Đăng N và Nguyễn Minh H trộm cắp xe mô tô biển số 81B2-195.68; sau đó, T1 và T2 còn được Nguyễn Đăng N cho mượn tiền từ tiền bán xe mô tô trộm cắp mà có. Tuy nhiên, đến thời điểm thực hiện các hành vi trên, thì T1 và T2 đều chưa đủ 16 tuổi, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không xử lý về hình sự. Công an thành phố P đã xử phạt hành chính đối với T1 và T2 bằng hình thức cảnh cáo là đúng quy định của pháp luật.

Đi với Nguyễn Tấn Đ, là người cho bị cáo Nguyễn Đăng N mượn xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius (chưa xác định được biển số) để sau đó Nguyễn Đăng N sử dụng xe trên làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, qua điều tra xác định: Đ và Nguyễn Đăng N không bàn bạc, thỏa thuận gì về việc Nguyễn Đăng N sẽ đi trộm cắp tài sản; việc Nguyễn Đăng N sử dụng xe mô tô mượn của Đ làm phương tiện đi trộm cắp, thì Đ không biết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ là có căn cứ.

Đi với anh Hồ Trọng N, là người đã mua xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đỏ đen, gắn biển số 82, là tài sản do bị cáo Nguyễn Đăng N trộm cắp được, qua điều tra xác định: Khi mua xe mô tô trên của bị cáo Nguyễn Đăng N, anh Hồ Trọng N không biết đó là tài sản do Nguyễn Đăng N trộm cắp mà có; khi biết xe mô tô mình mua là tài sản trộm cắp, anh Hồ Trọng N đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan Công an. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không xem xét, xử lý đối với anh Hồ Trọng N về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.

Đi với ông Nguyễn Văn C, là chủ gara C tại làng N, xã I, thành phố P, tỉnh Gia Lai, nơi bị cáo Nguyễn Đăng N và Nguyễn Minh H tháo phụ tùng, cất giấu xe mô tô 81B2-195.68 do trộm cắp mà có, quá trình điều tra xác định: Việc bị cáo Nguyễn Đăng N và Nguyễn Minh H tháo phụ tùng và cất giấu xe mô tô trộm cắp được tại gara của mình, thì ông C không biết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không xem xét, xử lý đối với ông C trong vụ án này là có căn cứ.

Đi với Trần Bá Đ, qua điều tra xác định: Đ biết xe mô tô Yamaha, loại xe Sirius, màu đỏ đen, gắn biển số 82 là xe do bị cáo Nguyễn Đăng N và Nguyễn Minh H trộm cắp, nhưng không trình báo đến cơ quan chức năng. Hiện Đ đã đi khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chưa làm việc được, nên chưa có căn cứ xử lý. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh đối với Đ, khi nào làm việc được, sẽ xem xét và xử lý sau.

Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Nguyễn Đăng N còn khai nhận: Khoảng tháng 11-2018, Nguyễn Đăng N đã cùng với Đinh Văn T1 trộm cắp 1 xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đỏ đen (chưa xác định được biển số) tại thôn R, xã K, huyện C, tỉnh Gia Lai; sau đó, nhờ đối tượng tên T (chưa xác định được nhân thân, địa chỉ) bán được 3.500.000 đồng. Tuy nhiên, qua xác minh, thì không có sự việc trộm cắp xe mô tô nào xảy ra tại thôn R, xã K, huyện C, tỉnh Gia Lai vào tháng 11-2018 như Nguyễn Đăng N và T1 khai. Theo thông báo của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Gia Lai đang tiếp tục xác minh vụ việc này, nếu có căn cứ sẽ làm rõ và xử lý sau.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đăng N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm i và s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 và Điều 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Đăng N.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng N 6 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày 22-10-2019.

Giao bị cáo Nguyễn Đăng N cho Uỷ ban nhân dân xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đăng N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 118/2019/HS-ST ngày 22/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:118/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Pleiku - Gia Lai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về