Bản án 117/2020/HNGĐ-ST ngày 24/07/2020 về chị T xin ly hôn anh T

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N

 BẢN ÁN 117/2020/HNGĐ-ST NGÀY 24/07/2020 VỀ CHỊ T XIN LY HÔN ANH T

Ngày 24 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 04 năm 2020. Về vụ án tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:26/2020/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên toà số: 19/2020/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2020 giữa:

+ Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T - Sinh năm 1993 Địa chỉ: Xóm 3, xã N, huyện N, tỉnh N.

+ Bị đơn: Anh Trần Văn T - Sinh năm 1992 Địa chỉ: Xóm 3, xã N, huyện N, tỉnh N.

Tại phiên toà có mặt chị T, vắng mặt anh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện lập ngày 16/4/2020 cũng như lời khai của nguyên đơn là chị Phạm Thị T trong quá trình giải quyết trình bày: Chị kết hôn với anh Trần Văn T vào tháng 7/2012 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh N. Sau khi kết hôn, chị và anh T chung sống hòa thuận đến năm 2013 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do anh T chơi bời, không quan tâm đến gia đình. Đã nhiều lần chị cùng gia đình khuyên giải nhưng anh T không thay đổi nên quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không được cải thiện. Từ tháng 10/2019 đến nay chị và anh T sống ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nên chị xin được ly hôn anh Trần Văn T. Về con chung giữa chị và anh Trần Văn T có hai con chung là Trần Tiến Th sinh ngày 05/9/2013 và Trần Tuấn A sinh ngày 09/10/2016, hiện nay cháu Th đang do chị nuôi dưỡng, còn cháu Tuấn A đang do anh T nuôi dưỡng. Nay chị đề nghị giải quyết mỗi bên nuôi một con và chị xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu Th và còn anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tuấn A, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung giữa chị và anh Trần Văn T thì chị không yêu cầu giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm, chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Phía bị đơn là anh Trần Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng anh T có lời khai trong quá trình giải quyết trình bày đúng như lời khai của chị Phạm Thị T về quá trình kết hôn và sống chung giữa anh và chị T. Sau khi ký kết hôn, anh và chị T chung sống hòa thuận được một thời gian thì xảy ra va chạm nhỏ nhưng từ năm 2019 đến nay thì do anh chơi bời không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng xảy ra xô xát. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không Th, chị T bỏ về nhà mẹ đẻ từ giữa năm 2019. Đã nhiều lần anh tìm gọi chị T nhưng chị T không quay về để vợ chồng đoàn tụ. Nay chị T xin ly hôn anh thì anh không muốn ly hôn nhưng nếu chị T nhất quyết xin ly hôn thì tuỳ chị T. Về con chung giữa anh và chị Phạm Thị T có hai con chung là Trần Tiến Th sinh ngày 05/9/2013 và Trần Tuấn A sinh ngày 09/10/2016, hiện anh đang nuôi dưỡng cháu Tuấn A còn cháu Th đang do chị T nuôi dưỡng. Nay anh xin được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tuấn A còn cháu Th để chị T trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung giữa anh và chị Phạm Thị T thì anh không yêu cầu giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về tố tụng, qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm Phán thụ lý giảỉ quyết cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: xử ly hôn giữa chị Phạm Thị T và anh Trần Văn T. Về con chung: Giao cháu Trần Tiến Th sinh ngày 05/9/2013 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Trần Tuấn A sinh ngày 09/10/2016 cho anh Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí dân sự sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chị T phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị T và anh Trần Văn T đều cư trú tại xã N, huyện N, tỉnh N, nay chị T có đơn xin ly hôn anh T và Tòa án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa vắng mặt anh Trần Văn T nhưng Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai cho anh T vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T là phù hợp với quy đinh tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị T và anh Trần Văn T được tổ chức kết hôn vào tháng 7/2012, đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Điền là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, chị T và anh T có thời gian chung sống hòa thuận hạnh phúc, sau mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân do anh T chơi bời không quan tâm đến gia đình. Hai bên gia đình hai đã nhiều lần khuyên giải nhưng quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh T không được cải thiện. Từ tháng 10/2019 đến nay chị T và anh T đã sống ly thân nhau. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị T xin được ly hôn anh T nên chấp nhận là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Trần Văn T có hai con chung là Trần Tiến Th sinh ngày 05/9/2013 và Trần Tuấn A sinh ngày 09/10/2016, hiện cháu Th đang do chị T nuôi dưỡng, cháu Tuấn A đang do anh T nuôi dưỡng. Nay chị T và anh T đề nghị giải quyết, chị T tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Th và anh T tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Tuấn A, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung nên chấp nhận là phù hợp.

[4] Về tài sản: Chị Phạm Thị T và anh Trần Văn T không yêu cầu giải quyết về tài sản chung của anh chị nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm, chị Phạm Thị T phải nộp theo quy định của pháp luật.

[6] Thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ các Điều 147; 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự Căn cứ các Điều 6; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1- Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị T và anh Trần Văn T.

2- Về con chung: Giao cháu Trần Tiến Th sinh ngày 05/9/2013 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng (hiện cháu cháu Trần Tiến Th đang do chị Phạm Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng). Giao cháu Trần Tuấn A sinh ngày 09/10/2016 cho anh Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng (hiện cháu Trần Tuấn A đang do anh Trần Văn T chăm sóc, nuôi dưỡng). Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

3- Án phí dân sự sơ thẩm, chị Phạm Thị T phải nộp 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số AA/2017/0000779 ngày 20/4/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị Phạm Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị T, vắng mặt anh T. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

64
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 117/2020/HNGĐ-ST ngày 24/07/2020 về chị T xin ly hôn anh T

Số hiệu:117/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nam Trực - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về