Bản án 115/2017/HSPT ngày 01/08/2017 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 115/2017/HSPT NGÀY 01/08/2017 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 01 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 74/2017/HSPT ngày 25/5 /2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 51/2017/HSST ngày 19/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: Xã Quảng Trung, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Thôn Tân Thành, xã Mai Lâm, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 05/12; con ông: Nguyễn Văn Sâm, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị Xe, sinh năm 1959; chồng là: Trần Như Lượng (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2006: tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 04/11/2016 đến ngày 10/11/2016 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;vắng mặt.

Bị cáo không kháng cáo: Lê Ngọc H (vắng mặt).

NHẬN THẤY

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Tĩnh Gia và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân (TAND) huyện Tĩnh Gia, bị cáo Nguyễn Thị H bị xét xử về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 17h45‟ ngày 04/11/2016, tổ công tác công an huyện Tĩnh Gia phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thị H đang có hành vi bán các số lô 68, 57 cho Lê Quốc Cường, tang vật thu giữ gồm: 16 tờ giấy kích thước (7x10) cm, bên trên có chữ "Đăng ký nhận kết quả từ 18h24‟" có ghi các số lô, số đề và có chữ ký của Nguyễn Thị H ngày 04/11/2016 ; quyển sổ ghi chép nhãn hiệu Minh Châu bên trong có ghi số và chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị H; 6.610.000đ tiền do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành. Nguyễn Thị H còn tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 6 plus dùng số 0903473591.

Quá trình điều tra xác định, trong ngày 04/11/2016, trước khi bán số lô, số đề cho Lê Quốc Cường H còn bán số lô, đề cho nhiều người khác với tổng số tiền 123.980.000đ cụ thể:

- Bán số lô, đề qua điện thoại cho người đàn ông tên Khoa, số điện thoại 0983033457 với tổng số tiền là 118.100.000đ ;

- Bán trực tiếp số lô, đề cho một số đối tượng qua đường với tổng số tiền 5.880.000đ.

Mở rộng điều tra còn xác định, ngày 03/11/2016, Nguyễn Thị H còn bán số lô, đề cho Lê Ngọc H thông qua số  điện thoại 0941267475. H đã chuyển một phần các số lô, đề mà mình bán được trong ngày cho H với tổng số tiền 45.578.000đ, còn lại H giữ lại tự ôm. Cuối ngày sau khi mở thưởng kết quả sổ xố Miền Bắc, H so sánh kết quả thì thấy các số lô, đề mà mình chuyển cho H không trúng nhưng trong các số lô, đề mà H giữ lại tự ôm thì có số 36 trúng 40 điểm tương đương số tiền 3.200.000đ ; các số lô 28, 43, 52, 77, 87, 91 mỗi số trúng 10 điểm tương đương số điểm 800.000đ ; các số lô 30, 56, 91 mỗi số trúng 5 điểm tương đương 400.000đ; tổng số điểm lô, đề H trúng 115 điểm lô và H phải trả cho khách 9.200.000đ. Số tiền 45.578.000đ H chuyển số lô, số đề cho H thì hai bên chưa kịp thanh toán. Như vậy tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức bán số lô, đề trong ngày 03/11/2016 của Nguyễn Thị H là 57.423.000đ. Quá trình điều tra Lê Ngọc H cũng thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc với Nguyễn Thị H.

Tại bản án sơ thẩm số 51/2017/HSST ngày 19/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội: “Đánh bạc”.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 248; điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53; Điều 33 BLHS.

Xử phạt: Nguyễn Thị H 24 (hai tư) tháng tù, được trừ 06 ngày tạm giam, bị cáo còn phải chấp hành 23 tháng 24 ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên phạt Lê Ngọc H 24 tháng cải tạo không giam giữ; tuyên xử lý vật chứng và giành quyền kháng cáo.

Ngày 19/4/2017, bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vắng mặt không có đơn xin rút đơn kháng cáo.

 Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ Điều 187 và điểm a khoản 2 Điều 248 BLTTHS; điểm p khoản 1; khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 BLHS:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, giữ nguyên án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và đơn kháng cáo của bị cáo.

XÉT THẤY

Bị cáo H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt và không ra bản án bất lợi cho bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 187 và khoản 2 Điều 245 của BLTTHS.

Căn cứ kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 03 và 04/11/2016, bị cáo Nguyễn Thị H đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Lê Quốc Cường và một số đối tượng khách qua đường với tổng số tiền là 181.403.000đ. Do đó bản án sơ thẩm của TAND huyện Tĩnh gia đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Thị H phạm vào tội “đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 248 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, không kháng cáo kêu oan.

Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trị an công cộng, nếp sống văn minh, hành vi đánh bạc còn là nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Khi quyết định hình phạt, bị cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên đã tự nguyện giao nộp số tiển thu lợi bất chính 30.000.000đ và 6.610.000đ là tiền tang vật của vụ án. Các tình tiết nêu trên chỉ được xem xét theo điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS mới đúng, nhưng Tòa án án sơ thẩm áp dụng thêm tình tiết tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 46 là chưa chính xác.

Theo đơn kháng cáo bị cáo trình bày và được chính quyền địa phương xác nhận hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đã ly hôn chồng hiện đang nuôi con nhỏ, đây là tình tiết được xem xét theo khoản 2 Điều 46 BLHS tại cấp phúc thẩm.Tuy nhiên trong vụ án này bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi bán số lô, số đề với số tiền lớn nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung theo khoản 2 Điều 248 và tình tiết tăng nặng là „„phạm tội nhiều lần‟‟ theo điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội Tòa án cấp sơ thẩm đã xử bị cáo đầu khung hình phạt là phù hợp và việc cách ly bị cáo khỏi xã hội là cần thiết, như vậy mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo và  giáo dục và phòng ngừa chung. Do đó không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Về án phí: Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên hình phạt nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

Căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 51/2017/HSST ngày 19/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia về hình phạt.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1; khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 24 (hai tư) tháng tù về tội «đánh bạc », được trừ 06 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 23 tháng 24 ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án. 

Án phí HSPT: Bị cáo phải nộp 200.000đ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

184
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 115/2017/HSPT ngày 01/08/2017 về tội đánh bạc

Số hiệu:115/2017/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 01/08/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về