Bản án 113/2019/HS-ST ngày 26/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 113/2019/HS-ST NGÀY 26/09/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2019/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số:113/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2019, đối với bị cáo:

Đỗ Cao P, sinh ngày 27/5/1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Cao Đ và bà Trần Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án số 45/HSST ngày 08/9/2017, TAND huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Đỗ Cao P 07 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 19/12/2017; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/12/2018 đến nay (có mặt).

Bị hại:

1. Chị Triệu Thị D, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn K, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).

2. Anh Phùng Văn T, sinh năm 1992; nơi cư trú: Phố Lẻ 1, phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

3. Chị Lê Thị P1, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

4. Anh Vũ Việt B, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

5. Anh Vũ Việt A, sinh năm 1990, nơi cư trú: Khu x, xã Ho, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

6. Anh Đào Trường A1, sinh năm1999; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

Ni đại diện theo ủy quyền của anh Đào Trường A1: Bà Ngô Thị Thanh H, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội (có mặt).

7. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

8. Chị Trần Thị H1, sinh năm 1978; nơi cư trú: Xóm Ni, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

9. Chị Diệp Thị Thanh T2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

10. Chị Đào Thị T3, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

11. Anh Đặng Xuân T4, sinh năm 1982; nơi cư trú: Khu đô thị H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

Ngưi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Phan Thị L, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn C, xã Hn, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

2. Anh Khương Văn Đ1, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

3. Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1988; nơi cư trú: xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

4. Bà Bùi Việt H2, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

5. Ông Đỗ Cao Đ, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 17/8/2018 đến ngày 08/12/2018, Đỗ Cao P đã lợi dụng sơ hở chủ sở hữu tài sản với thủ đoạn dùng xà cầy bẻ khóa phòng trọ, các cửa hàng bán quần áo, điện thoại, máy vi tính, không có người trông giữ thực hiện rất nhiều vụ trộm cắp tài sản trên nhiều địa bàn thuộc thành phố V, huyện B, huyện T, huyện T1 của tỉnh Vĩnh Phúc và huyện S của thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

* Vụ thứ 1: Khoảng 09 giờ 00 ngày 17/8/2018, Đỗ Cao P đột nhập vào phòng trọ của chị Triệu Thị D ở thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc dùng 01 cây xà cầy đem theo phá khóa cửa trộm cắp 01 xe máy, nhãn hiệu SYM, BKS: 22S1 - xxxxx. Trị giá tài sản trộm cắp là 4.666.000 đồng.

Sau khi trộm cắp được chiếc xe trên P tháo BKS: 22S1 - xxxxx, lắp BKS: 88F2 - xxxx để dùng làm phương tiện đi lại. Đến khoảng 00h30 ngày 29/8/2018, P điều khiển xe máy trộm cắp của chị D đến dãy nhà trọ của ông Phạm Văn C, sinh năm 1962, ở thôn N, xã T, huyện B để trộm cắp tài sản nhưng bị ông C phát hiện tri hô, P bỏ chạy để lại chiếc xe máy. Ông C đã báo Cơ quan Công an đến lập biên bản tạm giữ chiếc xe máy biển số 88F2 - xxxx.

Vụ thứ 2: Khoảng 00 giờ 30 ngày 31/8/2018, P đột nhập vào cửa hàng “Siêu thị âm thanh” ở khu hành chính xx, đường T, phường L, thành phố V của anh Phùng Văn T, trộm cắp 01 xe máy Honda Airblade BKS: 88B1 - xxxxx và 01 chiếc âm ly, nhãn hiệu Nanomax. Sau đó đặt mua trên mạng Facebook 01 chiếc biển số 88D1 - xxxxx rồi lắp vào xe máy trộm cắp được và sử dụng chiếc xe máy này làm phương tiện thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản khác, còn chiếc âm ly P để ở phòng trọ. Trị giá tài sản trộm cắp là 24.000.000đ.

Vụ thứ 3: Khong 00 giờ 30 ngày 23/10/2018, P dùng xà cầy bẻ khóa đột nhập vào hàng quần áo của chị Lê Thị P1 lấy nhiều quần, áo, giày, dép dành cho nam giới, kèm theo cả móc treo quần áo rồi đúc đầy vào 03 bao tải. Sau đó tiếp tục đột nhập vào cửa hàng sửa chữa điện thoại di động của anh Vũ Việt B gần cửa hàng quần áo của chị P1 lấy đi 02 chiếc máy ép kính điện thoại di động; 02 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Sony VAIO; 01 chiếc điện thoại Iphone 7Plus; 01 chiếc đồng hồ đo dòng điện; 01 chiếc máy ép zon màn hình điện thoại; 01 chiếc máy tách mặt kính điện thoại; 150 chiếc kính màn hình điện thoại rồi cho vào 01 bao tải chở ra vòng xuyến xã A, huyện T thuê taxi chở về phòng trọ ở phường K, thành phố V. Số tài sản trộm cắp được của anh B, P bán cho một người không quen biết trên mạng xã hội được 5.000.000đ, số tiền này P đã tiêu xài cá nhân hết. Số tài sản P trộm cắp được của chị P1, P bày bán ở cửa hàng bán quần áo của P tại phường K, thành phố V. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại phòng trọ của P số lượng quần áo do P trộm cắp của nhiều người. Ngày 10/12/2018, Cơ quan điều tra đã cho chị P1 xác nhận số tài sản của chị bị mất trong số tài sản đã thu giữ của P. Chị P1 đã xác định số tài sản của mình trong số vật chứng đã thu giữ được là: 22 chiếc quần bò nam, 13 chiếc áo sơ mi nam, 04 chiếc áo ba lỗ nam, 02 chiếc áo nỉ nam, 11 chiếc áo phông nam, 03 chiếc quần ngố bò nam, 03 chiếc quần ngố vải nam, 07 đôi giày thể thao nam, 11 đôi dép lê nam, 42 móc treo quần áo bằng gỗ, 128 móc treo quần áo bằng nhựa.

Ngày 15/2/2019, Cơ quan CSĐT- Công an huyện T yêu cầu định giá, định giá trị số tài sản chị Lê Thị P1 nhận được. Tại Kết luận định giá tài sản số 07 ngày 14/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện T kết luận: Tổng giá trị số tài sản trên là 12.326.000đ.

Cùng ngày 15/02/2019, Cơ quan CSĐT công an huyện T yêu cầu định giá giá trị tài sản P trộm cắp của anh Vũ Việt B. Ngày 12/3/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện T có công văn trả lời: Do tài sản không thu giữ được nên không có đủ thông tin, cơ sở để làm căn cứ định giá tài sản theo yêu cầu của cơ quan điều tra. Tài sản nêu trên bị cáo P khai đã bán cho người không quen biết trên mạng xã hội được 5.000.000đ và tiêu xài hết.

Vụ thứ 4: Khong 00 giờ 30 ngày 31/10/2018, P đột nhập vào cửa hàng bán quần áo và mỹ phẩm của anh Vũ Việt A lấy các mặt hàng gồm quần áo mỹ phẩm và số tiền 2.200.000đ kẹp trong quyển sổ. Sau khi lấy trộm được tài sản P chở về phòng trọ ở phường K. Đến sáng ngày 31/10/2018, P ngủ dậy kiểm đếm thấy có nhiều quần, áo, váy dành cho nữ đem trưng bày một phần quần áo tại cửa hàng của mình, còn một phần P chở đến quán bán nước của bà Phan Thị L nhờ bán hộ. Sau khi P bị bắt, Cơ quan điều tra đã thu giữ số quần áo còn lại do P trộm cắp của anh Vũ Việt A gồm: 15 chiếc quần lessging nữ, 08 quần vải nữ, 18 quần bò nữ, 09 quần sooc nữ, 02 áo chống nắng nữ, 03 áo sơ mi nữ, 02 áo thu đông nữ, 08 quần xếp ly nữ, 09 quần váy. Đối với số mỹ phẩm do P xếp ngay vào 03 hộp cát tông gửi ở tầng 3 của gia đình bà Bùi Thị H2. Sau khi P bị bắt ông Đỗ Cao Đ là bố đẻ của bị cáo đến dọn đồ đạc cá nhân cho P, bà H2 đã trả lại số thùng cát tông do P gửi để ông Đ mang về nhà.

Ngày 15/02/2019, Cơ quan CSĐT công an huyện T yêu cầu định giá đối với tài sản do P trộm cắp của anh Vũ Việt A ngày 31/10/2018. Tại Kết luận định giá số 08 ngày 14/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện T kết luận: Tổng cộng giá trị là 16.435.000đ.

Vụ thứ 5: Khong 00 giờ 30 ngày 02/11/2018, P dùng xà cầy phá khóa cửa hàng bán quần áo “Trường Anh BOUTIQE”, ở phố K, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội của anh Đào Trường A1. Lấy hết số quần áo treo và xếp trong cửa hàng và 01 bộ máy tính để bàn (gồm màn hình, nhãn hiệu LG và CPU, nhãn hiệu Fujitsu) cho vào 05 bao tải. Sau đó, P điều khiển xe chở 03 bao tải quần áo về phòng trọ trước rồi quay lại chở tiếp 03 bao tải còn lại. Khi quay lại chở nốt số tài sản trộm cắp, P trộm cắp thêm 01 ghế xoay nhãn hiệu Hòa Phát và 150.000đ để trên bàn. Sau khi trộm cắp được tài sản, P bày bán số quần áo trộm cắp được của anh A1 tại cửa hàng quần áo của mình ở phường K, thành phố V. P bán được một phần quần áo do trộm cắp của anh Đào Trường A1 nhưng không nhớ bán được những sản phẩm nào, được bao nhiêu tiền. Số tiền trộm cắp 150.000đ và tiền bán quần áo, P tiêu xài cá nhân hết. Bộ máy tính để bàn, P bán cho một người không quen biết trên mạng xã hội được 800.000đ, số tiền này P tiêu xài cá nhân hết. Ngày 10/12/2018, Cơ quan điều tra thu giữ được số tài sản gồm: 12 chiếc quần bò nam các loại, 09 chiếc áo sơ mi nam các loại, 06 chiếc áo khoác gió nam các loại, 04 chiếc áo nỉ nam các loại, 01 chiếc quần nỉ nam các loại, 01 chiếc ghế xoay Hòa Phát.

Ngày 08/01/2019, Cơ quan CSĐT- Công an huyện S ra Yêu cầu định giá số tài sản P trộm cắp được của anh Đào Trường A1 Bo gồm: 01 bộ máy tính để bàn và 01 ghế xoay nhãn hiệu Hòa Phát. Tại bản kết luận định giá số 130 ngày 05/4/2019 của Hội đồng định giá huyện S kết luận: 01 bộ máy tính đề bàn (gồm có: CPU nhãn hiệu Fujitsu D550, màn hình LG), giá trị là 3.920.000đ; 01 ghế nhãn hiệu Hòa Phát, loại ghế SG550, giá trị là 475.000đ. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 4.395.000đ.

Ngày 02/05/2019, Cơ quan CSĐT- Công an huyện S ra Yêu yêu cầu định giá số quần áo do P trộm cắp được của anh Đào Trường A1 thu giữ được. Tại bản kết luận định giá số 172 ngày 04/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện S kết luận: 12 quần bò nam các loại trị giá 2.720.000đ; 01 quần nỉ nam trị giá 107.000đ; 09 áo sơ mi nam các loại trị giá 1.563.000đ; 06 áo gió nam các loại trị giá 1.011.000đ; 04 áo nỉ nam các loại trị giá 732.000đ. Tổng trị giá tài sản là 6.133.000đ.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt sau hai lần định giá là: 10.528.000đ.

Ngày 02/5/2019, Cơ quan CSĐT- Công an huyện S ra Yêu cầu định giá tài sản do P trộm cắp được của anh Đào Trường A1 không thu giữ được. Ngày 04/5/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện S có công văn trả lời: Đối với tài sản không thu giữ được, không có hóa đơn chứng từ nên Hội đồng định giá tài sản không có cơ sở định giá.

Vụ thứ 6: Khoảng 00 giờ 30 ngày 19/11/2018, P đột nhập vào đến cửa hàng quần áo trên đường N, phường H, thành phố V của chị Nguyễn Thị T1, lấy rất nhiều quần áo các loại cho vào 03 chiếc bao tải chuẩn bị sẵn, đồng thời lấy 02 túi nilong buộc sẵn có nhiều quần áo và lấy túi hóa đơn mua hàng đem về phòng trọ của mình cất giấu, còn túi hóa đơn mua hàng P đốt bỏ. Cơ quan điều tra đã thu giữ được những tài sản gồm: 23 chiếc quần bò nữ, 07 chiếc quần bò trẻ em, 24 chiếc áo thun dài tay nữ, 25 chiếc áo ren cộc tay nữ, 22 chiếc váy cộc người lớn, 67 chiếc áo cộc nữ, 05 bộ quần áo cộc người lớn, 07 chiếc áo sơ mi dài tay nữ, 09 chiếc quần cotton nữ, 06 áo gió trẻ em, 66 chiếc váy trẻ em, 05 chiếc áo khoác trẻ em, 03 áo khoác bông trẻ em, 39 bộ nỉ da cá trẻ em, 08 váy người lớn, 07 áo thun dài tay trẻ em, 02 áo cộc nam, 01 áo vest nữ, 04 quần trẻ em các loại.

Ngày 31/12/2018, Cơ quan CSĐT - Công an TP.Vĩnh Yên ra Yêu cầu định giá tài sản, định giá trị số tài sản mà P trộm cắp được của chị Nguyễn Thị T1. Tại kết luận định giá số 02 ngày 05/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Vĩnh Yên kết luận. Tổng giá trị số tài sản trên là 12.890.000đ.

Vụ thứ 7: Khoảng 00 giờ 30 ngày 23/11/2018, P đột nhập vào của hàng “Nhà may H1” của chị Trần Thị H1 ở phường H, thành phố V lấy trộm 01 chiếc bàn là hơi nước nhãn hiệu Silver Star; 01 túi xách giả da, màu xanh bên trong có 02 đôi hoa tai bằng bạc, 01 đôi hoa tai bằng vàng tây, 01 vòng đeo tay gắn đá, số tiền mặt 200.000đ, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ ATM đều mang tên Trần Thị H1. Ngày 24/11/2018, P đem số tài sản trộm cắp được bán cho anh Nguyễn Văn L1, được 900.000đ. Số tiền này P đã tiêu xài cá nhân hết. Sau đó P mang chiếc túi xách bên trong có số giấy tờ tùy thân của chị H1 đến cây ATM gần cổng công ty SunHua, phường K, thành phố V để rút tiền bằng thẻ ATM của chị H1 nhưng không được nên P vứt bỏ luôn ở khu vực này, Cơ quan điều tra đã rà soát nhưng không thu giữ được. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc bàn là hơi nước và chiếc chăn bông.

Ti kết luận định giá số 02 ngày 05/01/2019 và số 18 ngày 30/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Vĩnh Yên kết luận: Tổng trị giá tài sản P trộm cắp là 2.100.000đ.

Vụ thứ 8: Khong 00 giờ 30 ngày 26/11/2018, P đột nhập vào cửa hàng bán quần áo của chị Diệp Thị Thanh T2 ở xã T, huyện B lấy trộm nhiều quần áo nam, nữ các loại cho vào 06 chiếc bao tải và 05 tờ giấy khổ A5 là hóa đơn mua hàng. P chở 03 bao tải về trước sau đó quay lại chở tiếp 03 bao tải về phòng trọ của mình cất giấu, trên đường đi P vứt bỏ số giấy tờ hóa đơn. Ngày 27/11/2018, P đem một phần số quần áo trộm cắp được của chị T2 đến nhờ bà Phan Thị L bán quán nước ở đầu cầu G, xã H, huyện T bán hộ. Bà L bán số quần áo cho nhiều khách không quen biết được 900.000đ (bao gồm quần áo do P trộm cắp của chị Lê Thị P1 và quần áo do P trộm cắp của chị T2) và đưa số tiền này cho P và được P trả công là 140.000đ. Sau đó, bà L đã giao nộp số tiền trên cho Cơ quan điều tra, còn số tiền 760.000đ P đã tiêu xài hết. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT công an thành phố Vĩnh Yên đã thu giữ được số tài sản như sau: 44 quần vải nữ, màu đen; 10 quần bò nữ màu xanh; 04 bộ quần áo nỉ nữ; 03 bộ quần áo lụa nữ; 34 chiếc áo thu đông nữ; 08 chiếc áo gió nữ; 53 chiếc áo len nữ; 05 chiếc áo phao nữ; 03 chiếc áo dạ nữ; 06 chiếc áo nỉ nam; 01 bộ quần áo đi chùa; 05 chiếc áo sơ mi nam; 01 chiếc áo hai dây nữ; 03 chiếc váy nữ; 07 thắt lưng da nữ; 03 quần sooc nam. Ngày 27/12/2018, Cơ quan CSĐT công an thành phố Vĩnh Yên đã bàn giao cho Cơ quan CSĐT công an huyện B để xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 02/01/2019, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B ra yêu cầu định giá, định giá trị số tài sản thu giữ được do P trộm cắp của chị Diệp Thị Thanh T2. Tại kết luận định giá số 08 ngày 18/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện B kết luận. Tổng giá trị số tài sản là 27.231.000đ.

Cùng ngày 02/01/2019, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B ra Yêu cầu định giá, định giá trị số tài sản không thu giữ được do P trộm cắp của chị Diệp Thị Thanh T2. Tại công văn từ chối định giá số 22 ngày 23/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện B trả lời: Tài sản do cơ quan CSĐT công an huyện B trưng cầu do không thu giữ được tang vật nên Hội đồng định giá không có đủ căn cứ để xác định giá trị thiệt hại của tài sản.

Vụ thứ 9: Khong 01 giờ ngày 02/12/2018, P đột nhập vào cửa hàng quần áo “T” ở xã H, huyện T của chị Đào Thị T3, lấy 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Dell core i5 cùng toàn bộ số quần áo, váy nữ các loại được bày bán trong cửa hàng cho vào 03 bao tải rồi chở về phòng trọ cất giấu. Sau đó, P điều khiển xe máy quay lại cửa hàng “T” lấy thêm 02 bao tải quần áo mang về. Ngày 03/12/2018, P bán 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell core i5 màu đen cho một người mua hàng (không biết tên, tuổi, địa chỉ) trên mạng xã hội được số tiền 2.000.000đ. Số tiền này P đã tiêu xài cá nhân hết. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ được toàn bộ quần áo do P trộm cắp được của chị Đào Thị T3.

Ngày 14/12/2018, ông Đỗ Cao Đ đến phòng trọ dọn toàn bộ cửa hàng bày bán quần áo và vật dụng cá nhân của P mang về nhà để trả lại phòng thuê trọ đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 05 bao tải và 01 thùng catton, bên trong chứa quần, áo các loại, được niêm phong. Quá trình mở niêm phong, chị Đào Thị T3 đã xác nhận toàn bộ số tài sản chị bị mất bao gồm 219 sản phẩm các loại, cụ thể: 06 áo nỉ các loại; 19 áo thun các loại; 02 áo chống nắng; 08 áo sơ mi các loại; 02 áo cộc vải; 07 áo khoác các loại; 39 áo len các loại; 02 quần len; 01 bộ len; 01 áo dài tay; 37 chân váy các loại; 60 quần bò các loại; 15 quần dài các loại; 04 váy len các loại; 04 váy thun các loại; 03 áo gió; 08 quần cộc các loại; 01 váy vải.

Ngày 07/01/2019, Cơ quan CSĐT- Công an huyện T1 ra Yêu cầu định giá số quần, áo, váy; 01 máy tính Dell và công khắc phục, hàn lắp ổ khóa và thanh cài cửa xếp bằng nhôm do P trộm cắp, làm hỏng của chị Đào Thị T3. Tại Kết luận định giá số 37 ngày 16/01/2019 của Hội đồng định giá huyện T1 kết luận. Tổng giá trị thiệt hại là 37.040.000đ .

Vụ thứ 10: Khong 00 giờ 30 ngày 08/12/2018 P đột nhập cửa hàng máy tính M, đường M, phường L, thành phố V của anh Đặng Xuân T4 trộm cắp 07 máy tính xách tay các loại, nhiều Chip, Ram, ổ cứng, ổ đĩa DVD và các thiết bị điện tử khác cho vào 05 bao tải, đem về phòng trọ cất dấu. Khoảng 12 giờ ngày 10/12/2018, P điện thoại cho anh Khương Văn Đ1 nói có đồ máy tính muốn bán, anh Đ1 đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe máy mang một số tài sản trộm cắp được đi tiêu thụ, đến khu vực cầu G, xã Đ, huyện L, P giao cho anh Đ1 gồm: 01 túi xách màu đen bên trong có 01 chiếc máy tính Lenovo màu đen, 08 thanh Ram, 03 chiếc ổ cứng, 03 chiếc Main. Anh Đ1 nhận tài sản và nói phải xem chất lượng máy tính ra sao, sau đó mới thống nhất giá tiền, P đồng ý rồi quay về phòng trọ. Trên đường đi về phòng trọ, P bị cơ quan Công an kiểm tra hành chính, phát hiện thu giữ một phần tài sản gồm 01 ba lô đeo vai bên trong có 04 chiếc máy tính laptop và nhiều thanh Ram, ổ cứng và Main mang theo trên người.

Ngày 10 và ngày 14/12/2018, cơ quan CSĐT khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Cao P. Kết quả thu giữ: 02 máy tính, 15 chip, 51 main, 01 vỏ case máy tính, 01 bộ phát wifi, 48 ram, 12 ổ đọc đĩa, 64 ổ cứng, 82 nguồn, 01 đầu chia cổng mạng wifi, 03 vỏ đựng main, 02 phiếu bảo hành, 06 bao tải màu xanh, 01 xà cầy dài 70cm, 01 đôi dép, 01 đôi giày, 01 áo khoác gió màu xanh đen, 03 đoạn gậy bằng kim loại (có bảng thống kê kèm theo); 34 chiếc quần bò nam các loại, 01 bộ quần áo nỉ nam, 11 chiếc áo nỉ nam các loại, 23 chiếc áo sơ mi nam các loại, 02 chiếc áo gió nam, 03 chiếc quần ngố vải nam, 11 đôi dép lê nam các loại, 03 quần ngố bò nam, 66 váy trẻ em các loại, 57 áo thun nữ các loại, 18 quần váy nữ các loại, 08 váy nữ người lớn, 24 quần bò nữ các loại, 06 áo gió trẻ em, 05 áo khoác trẻ em, 39 bộ nỉ da cá trẻ em các loại, 03 chiếc áo khoác bông trẻ em, 07 áo thun trẻ em, 07 quần bò trẻ em, 04 quần vải trẻ em, 15 quần legging nữ các loại, 04 áo ba lỗ nam, 09 quần sooc nữ, 08 quần nữ, 09 quần cotton nữ các loại, 07 đôi giày thể thao nam, 02 áo chống nắng nữ, 04 bộ quần áo nỉ nữ, 03 bộ quần áo lụa nữ, 01 quần áo đi chùa, 01 áo dây nữ, 25 áo cộc ren nữ, 27 áo cộc nữ trơn, 01 áo vest nữ, 13 áo phông nam các loại, 42 chiếc móc gỗ quần áo, 128 móc nhựa quần áo, 01 bàn là nhãn hiệu Silver Star, 01 âm ly nhãn hiệu Nanomax, 01 chăn bông màu đỏ và 01 ghế xoay nhãn hiệu Hòa Phát.

Ngày 14/12/2018, bà Phan Thị L tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra số tài sản gồm: 24 chiếc quần bò nữ các loại, 52 chiếc quần vải nữ các loại, 13 chiếc áo sơ mi nữ các loại, 05 chiếc áo phông nữ, 08 chiếc áo gió nữ, 53 chiếc áo len nữ các loại, 16 chiếc quần váy nữ các loại, 05 bộ quần áo ngủ nữ, 40 chiếc áo phông trơn nữ, 04 chiếc áo khoác gió nam, 04 chiếc áo sơ mi nam, 03 chiếc áo thun nữ, 07 chiếc thắt lưng nữ, 03 chiếc quần cộc nam .

Ngày 10/12/2018, anh Khương Văn Đ1 tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra số tài sản gồm: 01 túi xách màu đen bên trong có 01 chiếc máy tính Lenovo màu đen, 08 thanh Ram, 03 chiếc ổ cứng, 03 chiếc Main để phục vụ điều tra.

Ngay sau khi khám xét, thu giữ được tài sản là quần, áo nam, nữ, trẻ em các loại, váy nữ các loại, bàn là, chăn bông, móc treo quần áo, phụ kiện các loại. Cơ quan CSĐT đã tiến hành làm việc với các bị hại trong vụ án khác (chị Lê Thị P1 và anh Vũ Việt A ở huyện T; chị Diệp Thị Thanh T2 ở huyện B; anh Đào Trường A1 ở huyện S), lập biên bản nhận diện đồ vật, tài sản và bàn giao vật chứng cho các cơ quan điều tra khác xử lý theo thẩm quyền. Sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đỗ Cao P, các Cơ quan điều tra huyện T, huyện T1, huyện B, huyện S chuyển đến Cơ quan điều tra công an thành phố Vĩnh Yên nhập vụ án để tổng hợp xử lý.

Ngày 12/12/2018, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên ra Yêu cầu định giá số tài sản do P trộm cắp của anh Đặng Xuân T4. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 223 ngày 14/12/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Vĩnh Yên kết luận: Tổng tài sản trên giá trị là: 281.905.000đ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Việt B yêu cầu bị cáo bồi thường số tài sản không thu hồi được với số tiền 47.000.000đ; anh Vũ Việt A yêu cầu bị cáo bồi thường số tài sản không thu hồi được 55.000.000đ; anh Đào Trường A1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tài sản không thu hồi được 74.700.000đ; chị Đào Thị T3 yêu cầu bị cáo bồi thường 5.000.000đ trị giá máy tính xách tay không thu hồi được; những người bị hại khác không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh B, anh A, anh A1 và chị T3.

Ti Cáo trạng số: 109/CT-VKS-VY ngày 21/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Đỗ Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Ti Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa Đỗ Cao P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Nhng người bị hại có mặt và vắng mặt khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Ni có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g,h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo P từ 10 năm đến 11 năm tù. Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị: Xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự theo quy định.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Đỗ Cao P tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng cac tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 17/08/2018 đến ngày 08/12/2018, Đỗ Cao P lợi dụng sơ hở của người bị hại trong việc quản lý tài sản đã lén lút dùng xà cầy phá khóa phòng trọ, các cửa hàng bán quần áo, điện thoại, máy tính không có người trông giữ thực hiện nhiều vụ trộm cắp chiếm đoạt tài sản của bị hại trên các địa bàn thuộc thành phố V, huyện B, huyện T, huyện T1, tỉnh Vĩnh Phúc và huyện S, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Khong 09 giờ ngày 17/8/2018, P sử dụng xà cầy phá khóa cửa phòng trọ của chị Triệu Thị D ở thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc trộm cắp 01 xe máy, BKS: 22S1 – xxxxx. Trị giá tài sản thiệt hại là 4.666.000đ.

Vụ thứ 2: Khong 00 giờ 30 phút ngày 31/08/2018, P sử dụng xà cầy phá khóa cửa cửa hàng “Siêu thị âm thanh” của anh Phùng Văn T ở khu hành chính xx, đường T, phường L, thành phố V, trộm cắp 01 xe máy Honda Airblade BKS: 88B1 - xxxxx và 01 máy âm ly Nanomax. Trị giá tài sản thiệt hại là 24.000.000đ.

Vụ thứ 3: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 23/10/2018, P phá khóa đột nhập vào cửa hàng quần áo của chị Lê Thị P1 ở thị trấn H, huyện T trộm cắp nhiều quần, áo, giày, dép nam các loại và móc treo bằng gỗ, bằng nhựa. Trị giá tài sản thiệt hại thu giữ định giá được là 12.326.000đ. Sau đó, P tiếp tục phá khóa đột nhập vào cửa hàng sửa chữa điện thoại di động của anh Vũ Việt B bên cạnh cửa hàng quần áo của chị P1 trộm cắp: 02 máy tính, 01 điện thoại và linh kiện sữa chữa điện thoại rồi bán cho người không quen biết được 5.000.000đ. Quá trình điều tra xác định trị giá tài sản P chiếm đoạt của anh B là 5.000.000đ và chị P1 là 12.326.000đ. Tổng trị giá tài sản là 17.326.000đ.

Vụ thứ 4: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 31/10/2018, P phá khóa đột nhập vào cửa hàng bán quần áo và mỹ phẩm của anh Vũ Việt A ở Khu x, xã H, huyện T trộm cắp quần, áo nữ các loại và mỹ phẩm các loại, trị giá 16.435.000đ và số tiền 2.200.000đ. Tổng trị giá tài sản thiệt hại là 18.635.000đ.

Vụ thứ 5: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 02/11/2018, P phá khóa đột nhập vào cửa hàng bán quần áo “Trường Anh BOUTIQUE” của anh Đào Trường A1 ở phố K, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội trộm cắp nhiều quần, áo nam các loại; 01 bộ máy tính; 01 ghế xoay Hòa Phát, trị giá tài sản là 10.528.000đ và số tiền 150.000đ. Tổng trị giá tài sản thiệt hại: 10.678.000đ.

Vụ thứ 6: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/11/2018, P phá khóa đột nhập vào cửa hàng bán quần áo của chị Nguyễn Thị T1 ở đường N, phường H, thành phố V, P trộm cắp nhiều quần, áo nữ và quần, áo trẻ em các loại. Trị giá tài sản thiệt hại là 12.890.000đ.

Vụ thứ 7: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 23/11/2018, P phá khóa đột nhập vào cửa hàng may quần áo của chị Trần Thị H1 ở số 1, đường Q, phường H, thành phố V trộm cắp 01 bàn là, 01 chăn bông, 01 ví giả da bên trong có giấy tờ tùy thân; một số trang sức bằng bạc và vàng tây trị giá 2.100.000đ và số tiền 200.000đ. Tổng trị giá tài sản thiệt hại là 2.300.000đ.

Vụ thứ 8: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 26/11/2018, P phá khóa đột nhập vào cửa hàng bán quần áo của chị Diệp Thị Thanh T2 ở ngã tư T, xã H, huyện B trộm cắp nhiều quần, áo nam, nữ, phụ kiện các loại.Trị giá tài sản thiệt hại là 27.231.000đ.

Vụ thứ 9: Khoảng 01 giờ 00 ngày 02/12/2018, P phá khóa đột nhập vào cửa hàng bán quần áo của chị Đào Thị T3 ở xã H, huyện T1 trộm cắp nhiều quần, áo, váy nữ các loại và 01 máy tính xách tay. Trị giá tài sản thiệt hại là 37.040.000đ.

Vụ thứ 10: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/12/2018, P phá khóa đột nhập vào cửa hàng bán máy tính của anh Đặng Xuân T4 ở đường M, phường L, thành phố V trộm cắp nhiều máy tính và linh kiện máy tính các loại.Trị giá tài sản thiệt hại: 281.905.000đ.

Tng giá trị 10 lần trộm cắp là 436.671.000đ (Bốn trăm ba sáu triệu sáu trăm bảy mốt nghìn đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Cao P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) có khung hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội , Hôi đông xet xư nhân thây:

Bị cáo phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 15 năm tù nên thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng. Bị cáo là thanh niên tuổi đời còn trẻ có sức khỏe nhưng lại lười lao động, muốn sống bằng thành quả lao động của người khác, bị cáo đã từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản, tính đến ngày phạm tội chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo mở cửa hàng bán quần áo ở phường K, thành phố V để kinh doanh tuy nhiên không buôn bán như những người bình thường mà ngược lại trong thời gian ngắn liên tục thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản trên nhiều địa bàn khác nhau, mỗi lần trộm cắp giá trị tài sản đều trên 2.000.000đ đem về bày bán công khai ở cửa hàng của mình và nhờ bà Phan Thị L bán hộ, điều này thể hiện sự manh động, liều lĩnh, táo bạo bất chấp pháp luật gây dư luận rất xấu trong quần chúng nhân dân, hơn nữa bị cáo bị áp dụng 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là “ Tái phạm” và “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự do đó cần xử phạt bị cáo thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, buộc phải chấp hành hình phạt tù giam một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” tại phiên tòa một số người bị hại là anh A, chị T3 và người đại diện hợp pháp của anh Đào Trường A1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét khi lượng hình.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[5] Đối với những người liên quan đến vụ án bao gồm: Bà Phan Thị L là người được P nhờ 02 lần bán quần áo trộm cắp; bà Bùi Việt H2 là chủ nhà trọ nơi P thuê nhà có cho P gửi 03 thùng cát tông để mỹ phẩm; ông Đỗ Cao Đ là người giao nộp tài sản do P trộm cắp; anh Khương Văn Đ1 là người mua bán 01 máy vi tính và một số thiết bị máy tính với Phi;anh Nguyễn Văn L1 là người mua số vàng tây, bạc do P trộm cắp của chị H1, quá trình điều tra xác định những người này không biết nguồn gốc tài sản do P trộm cắp mà có, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với những người mua tài sản của P qua mạng xã hội bao gồm: 01 bộ máy tính P trộm cắp của anh Đào Trường A1 ngày 02/11/2018; số tài sản trộm cắp của anh Vũ Việt B ngày 23/10/2018; 01 máy vi tính xách tay P trộm cắp của chị Đào Thị T3 ngày 02/12/2018, do P không biết tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người này nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

Đối với người lái xe taxi do P thuê chở tài sản trộm cắp ngày 23/10/2018, do P không nhớ tên hãng taxi, không biết nhân thân, lai lịch của lái xe, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Đối với số tài sản P trộm cắp của anh Vũ Việt B, anh Vũ Việt A, anh Đào Trường A1, chị Đào Thị T3 do tài sản đã bị P bán mất, không thu hồi được, quá trình điều tra và tại phiên tòa giữa bị cáo và những người bị hại thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường, cụ thể bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Vũ Việt B 47.000.000đ; anh Vũ Việt A 55.000.000đ; anh Đào Trường A1 74.700.000đ; chị Đào Thị T3 5.000.000đ tiền máy vi tính, sự thỏa thuận này là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật được hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với số tài sản cơ quan điều tra đã thu giữ của chị Lê Thị P1, anh Vũ Việt A, anh Đào Trường A1, chị Nguyễn Thị T1, chị Trần Thị H1, chị Diệp Thị Thanh T2, chị Đào Thị T3, sau khi định giá cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại, chị P1, anh A, anh A1, chị T1, chị H1, chị T2, chị T3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với số tài sản P trộm cắp của chị Lê Thị P1, chị Diệp Thị Thanh T2, chị Trần Thị H1, chị Nguyễn Thị T1 không thu hồi được, chị P1, chị T2, chị H1, chị T1 không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với hành vi làm hỏng khóa của các cửa hàng trong quá trình trộm cắp, quá trình điều tra tại phiên tòa các bị hại đều tự nguyện khắc phục không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.

[7] Về vật chứng vụ án:

Đối với 02 chiếc xe máy và 01 âm ly quá trình điều tra đã xác định chiếc xe máy SYM, biển kiểm soát 22S1 – xxxxx là của chị Triệu Thị D còn chiếc xe máy Honda Airblade biển kiểm soát 88B1 - xxxxx và 01 máy âm ly Nanomax là của anh Phùng Văn T, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị D và anh T là có căn cứ. Đối với 02 chiếc biển kiểm soát xe máy của chị D, anh T trong quá trình sử dụng bị cáo đã vứt bỏ không thu hồi được, chị D, anh T đã làm lại biển kiểm soát xe của mình không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Đối với 02 chiếc biển kiểm soát xe máy 88F2 – xxxx và biển số 88D1 – xxxxx. Quá trình điều tra xác định chiếc biển số trên là của anh Nguyễn Chí Cg và anh Nguyễn Quốc T không có nhu cầu sử dụng, đã bán cho người mua phế liệu, nay không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 140.000đ bà L giao nộp cho cơ quan điều tra đây là số tiền do P bán tài sản trộm cắp mà có cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với tài sản là máy vi tính và các thiết bị vi tính do P trộm cắp của anh Đặng Xuân T4 và 01 túi nilon màu đỏ, vỏ bọc nilon các case máy tính, 01 phần vỏ giấy màn hình máy tính, 01 vỏ bìa giấy “TP-Link” màu đen xanh và 01 hộp vỏ giấy màu xanh và 01 đầu ghi hình camera, nhãn hiệu HIKVISION. Quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh T4, Cơ quan CSĐT đã trả lại toàn bộ tài sản cho anh T4 là có căn cứ.

Đối với chiếc điện thoại Nokia 1280, P sử dụng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra P đã làm mất, cơ quan điều tra không thu giữ được, khi nào thu giữ được sẽ xử lý sau.

Về vật chứng còn lại là 01 balo đeo vai, 06 bao tải màu xanh, 01 xà cầy dài 70cm, 03 ổ khóa bị hỏng, quá trình điều tra xác định đây là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 đôi dép, 01 đôi giày, 01 áo khoác gió màu xanh đen, 03 đoạn gậy bằng kim loại, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của P không liên quan đến việc phạm tội tuy nhiên do không còn giá trị sử dụng, P không yêu cầu nhận lại nên cần tịch tu tiêu hủy.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đỗ Cao P 11 (Mười một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 10/12/2018).

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 140.000đ; tịch thu tiêu hủy 01 balo đeo vai, 06 bao tải màu xanh, 01 xà cầy, 01 đôi dép, 01 đôi giày, 01 áo khoác gió màu xanh đen, 03 đoạn gậy bằng kim loại, 03 ổ khoá bằng kim loại đã bị hỏng; 02 biển kiểm soát xe máy, trong đó 01 BKS 88F2 – 7842; 01 BKS 88D1 – 113.41; (đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/08/2019).

Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 589, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, buộc bị cáo Đỗ Cao P phải bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho anh Vũ Việt B 47.000.000đ; anh Vũ Việt A 55.000.000đ; anh Đào Trường A1 74.700.000đ; chị Đào Thị T3 5.000.000đ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đỗ Cao P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.542.500đ (bốn triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự trong hình sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 113/2019/HS-ST ngày 26/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:113/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về