Bản án 113/2019/HS-ST ngày 05/08/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 113/2019/HS-ST NGÀY 05/08/2019 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 05 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2019/QĐXXST-HS ngày 12/7/2019 đối với bị cáo:

Diệp Lƣơng T (tên gọi khác Alex D, S), sinh năm: 1990, tại: Đ; nơi cư trú: tổ X, khu phố Y, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Diệp Văn P, sinh năm 1947 và bà Làu Sau Nh, sinh năm 1957; vợ Thân Thị Trúc Q (không có đăng ký kết hôn) và 01 con sinh năm 2015.

- Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 275/2011/HSST ngày 23/12/2011 bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo Diệp Lương T 21 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa thi hành xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đóng án phí.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 76/2012/HSST ngày 17/4/2012 của Tòa án nhân dân Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Diệp Lương T 01 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt với bản án hình sự sơ thẩm số 275/2011/HSST ngày 23/12/2011 Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, buộc bị cáo Diệp Lương T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 năm 09 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2014.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 35/2019/HSST ngày 12/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo Diệp Lương T 08 tám năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 01 năm tù về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm tù.

Bị bắt tạm giam ngày 13/12/2018. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt.

Bị hại:

1/ Ông Mai Đức T, sinh năm: 1987; cư trú tại số X, Trương Công Đ, Phường Y, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2/ Bà Huỳnh Thị Bích V, sinh năm: 1973; cư trú tại số X, Nguyễn Công T, Phường Y, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

3/ Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 1985; cư trú tại số X, Phan Bội C, Phường Y, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

4/ Ông Lê Văn Đ, sinh năm: 1965; cư trú tại số X, Đào Duy T, Phường Y, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Diệp Lương T là đối tượng không nghề nghiệp, để có tiền tiêu xài, T lên mạng Internet tìm hiểu và đặt mua giấy Chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe mang tên của người khác rồi dán ảnh của mình vào, sau đó đến các cơ sở lưu trú ở thành phố Đà Lạt, dùng các giấy tờ này thuê xe rồi chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. Từ tháng 9/2018 đến tháng 12/2018, T đã chiếm đoạt 04 chiếc xe máy bằng thủ đoạn như trên, cụ thể như sau:

Lần 1: Vào tháng 9/2018, T lên mạng Internet đặt mua 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe giả mang tên Nguyễn Văn Cường với hình ảnh là của mình. Sau đó Toàn đi xe khách lên Đà Lạt thuê phòng nghỉ. Khoảng 08h00 ngày 28/9/2018, T đến số 39 Trương Công Định, phường 1, thành phố Đà Lạt gặp ông Mai Đức T, đưa 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Cường để thuê 01 chiếc xe hiệu HonDa AirBlade màu trắng xám đen, biển số: 49K1-405.52 với thời gian thuê là 02 ngày. Ông Mai Đức T sau khi xem giấy tờ đã tin tưởng và giao xe máy cho Diệp Lương T. Sau khi chiếm đoạt được xe máy, Diệp Lương T điều khiển xe về thành phố Hồ Chí Minh bán chiếc xe này cho một người không rõ lai lịch với giá 12.000.000đ. Số tiền này T đã tiêu xài hết.

Lần 2: Vào tháng 10/2018, T tiếp tục lên mạng Internet đặt mua 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Hồ Đình Công, sau khi có chứng minh nhân dân, T thay ảnh của mình vào rồi đặt làm 01 giấy phép lái xe hạng A1 với những thông tin của Hồ Đình Công trên. Sau đó T đón xe khách đến khách sạn Melody tại địa chỉ 29A đường 3/4, phường 3, thành phố Đà Lạt thuê phòng nghỉ. Đến 07h30 ngày 10/10/2018, T đưa giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hồ Đình Công hỏi thuê 01 xe máy của bà Huỳnh Thị Bích V, bà V sau khi xem giấy phép lái xe đã đồng ý cho T thuê 01 xe máy hiệu Honda Vision màu đen đỏ, biển số: 49B1-656.99. Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe máy của bà V, T điều khiển xe về thành phố Hồ Chí Minh bán cho một người không rõ lai lịch với giá 10.000.000đ, số tiền này T đã tiêu xài hết. Đối với giấy chứng minh nhân dân tên Hồ Đình Công, T đã vứt đi vì sợ bị phát hiện.

Lần 3: Vào tháng 11/2018, T lên mạng Internet đặt mua 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Thân Văn Xuyên rồi dán hình của mình vào, sau đó tiếp tục đặt mua 01 giấy phép lái xe hạng A1 với thông tin của người tên Xuyên này cùng với hình ảnh của mình. Ngày 08/11/2018, T đi xe khách đến khách sạn Memory tại địa chỉ: 24B Hùng Vương, phường 9, thành phố Đà Lạt và dùng giấy chứng minh nhân dân mang tên Xuyên để thuê 01 phòng nghỉ, sau đó T tìm hiểu trên mạng rồi gọi điện thoại cho bà Nguyễn Thị Tuyết N để hỏi thuê 01 xe máy trong 02 ngày. Khoảng 08h00 ngày 08/11/2018, bà N đến khách sạn Memory gặp T, bà N sau khi kiểm tra giấy phép lái xe và giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Thân Văn Xuyên, có ảnh giống nhau, giống với người thuê xe nên tin tưởng giao cho T 01 xe máy hiệu Honda Vision màu đỏ đen, biển số 49B1-683.01. Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe này, T điều khiển về thành phố Hồ Chí Minh, khi đến huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, T dừng xe tại một điểm vắng người rồi thay biển số 49B1-683.01 bằng 01 biển số khác mà T đã chuẩn bị trước đó vào rồi chạy thẳng về thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây T đã bán chiếc xe này cho một người không rõ nhân thân lai lịch với giá 10.000.000đ. Số tiền này T đã tiêu xài hết.

Lần 4: Vào tháng 12/2018, T lên mạng Internet đặt mua 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh Quang rồi dán hình của mình vào, T tiếp tục đặt mua 01 giấy phép lái xe hạng A1 theo thông tin của giấy chứng minh nhân dân này với hình ảnh của T. Đến ngày 10/12/2018 T rủ 01 người phụ nữ tên Phương (chưa rõ nhân thân lai lịch) mà T quen trên mạng xã hội Facebook lên Đà Lạt chơi, Phương đồng ý. Đến khoảng 17h00 cùng ngày, cả hai đến điểm thuê xe máy của ông Lê Văn Đ ở đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường 1, thành phố Đà Lạt, T hỏi thuê 01 xe máy và đưa giấy chứng minh, giấy phép lái xe mang tên Quang ra cho ông Đ xem. Sau khi xem giấy tờ, thấy hình ảnh và thông tin giống nhau nên ông Đ đã đồng ý cho T thuê 01 xe máy hiệu Honda AirBlade màu xám bạc, biển số 49D1-439.71. Sau khi được giao xe, T chở Phương đi lòng vòng rồi nói với Phương có việc gấp phải về thành phố Hồ Chí Minh, Phương hỏi về chiếc xe đã thuê thì T nói thuê 03 - 04 ngày. Khi chạy xe đến địa phận huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, T ghé vào một quán nước để nghỉ, trong lúc Phương đi vệ sinh, T thay biển số 49D1-439.71 bằng biển số 60B9-290.58 mà T đã chuẩn bị trước đó, còn biển số 49D1-439.71 T đã vứt đi. Khi chạy xe tới ngã ba Vũng Tàu, T nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động của Phương nên T ghé vào một quán nước bên đường rồi hỏi mượn chiếc điện thoại di động hiệu SamSung màu đen của Phương, giả vờ gọi điện rồi nói mượn điện thoại đi có tí việc sẽ quay lại thì Phương đồng ý đưa điện thoại cho T. Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại di động của Phương, T điều khiển xe chạy về thành phố Vũng Tàu. Đến ngày 12/12/2018, T bị Cơ quan Công an phát hiện mời về làm việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đà Lạt kết luận chiếc xe HonDa AirBlade màu trắng xám đen, biển số: 49K1-405.52 của ông Mai Đức T có giá trị 22.400.000đ; chiếc xe Honda Vision màu đen đỏ, biển số: 49B1-656.99 của bà Huỳnh Thị Bích V có giá trị 25.830.000đ; chiếc xe Honda Vision màu đỏ đen, biển số 49B1-683.01của bà Nguyễn Thị Tuyết N có giá trị 30.600.000đ; chiếc xe Honda AirBlade màu xám bạc, biển số 49D1-439.71 của ông Lê Văn Đ có giá trị 36.000.000đ.

Vật chứng thu giữ: Số tiền 300.000đ; 01 điện thoại di động hiệu SamSung S8 màu đen, đã qua sử dụng, tại mặt trước góc trên bên trái bị bể; 02 mặt sau giấy chứng minh nhân dân có mộc đỏ, mặt trước trắng; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trần Thanh Bình; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh Tâm; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Cường; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn Cường; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hồ Đình Công; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Thân Văn Xuyên; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Thân Văn Xuyên; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh Quang; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thanh Quang và 01 xe máy hiệu Honda AirBlade màu xám bạc, gắn biển số: 60B9-290.58, số khung: 6301FZ797350, số máy: JF63E1790418.

Tại bản kết luận giám định số 507/GĐ-PC09 ngày 15/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận cụ thể như sau:

Giấy phép lái xe số 680181008826, đề ngày 26/02/2018, họ tên Trần Thanh Quang; Giấy phép lái xe số 790143039075, đề ngày 21/12/2014, họ tên Hồ Đình Công; Giấy phép lái xe số 240160010967, đề ngày 04/3/2016, họ tên Thân Văn Xuyên; Giấy phép lái xe số 790183727075, đề ngày 15/5/2018, họ tên Nguyễn Văn Cường không phải là loại giấy phép lái xe do Bộ giao thông vận tải phát hành.

Giấy chứng minh nhân dân số 365946412, họ tên Trần Thanh Tâm; Giấy chứng minh nhân dân số 250684994, họ tên Trần Thanh Quang; Giấy chứng minh nhân dân số 122000940, họ tên Thân Văn Xuyên là loại giấy chứng minh nhân dân do Bộ Công an phát hành và bị thay ảnh.

Giấy chứng minh nhân dân số 024319366, họ tên Nguyễn Trần Thanh Bình là loại giấy chứng minh nhân dân do Bộ Công an phát hành, không đủ cơ sở kết luận có bị thay ảnh hay không.

Giấy chứng minh nhân dân số 261313710, họ tên Nguyễn Văn Cường không phải là loại giấy chứng minh nhân dân do Bộ Công an phát hành và không đủ cơ sở kết luận hai mặt sau giấy chứng minh nhân dân đề ngày 31/5/2013 và 24/6/2009 có phải là loại giấy chứng minh nhân dân do Bộ công an phát hành hay không.

Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 10/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Diệp Lương T (Alex D, S) về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c Khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị hại ông Mai Đức T yêu cầu bồi thường số tiền 33.000.000đ; bà Huỳnh Thị Bích V yêu cầu bồi thường số tiền 36.500.000đ; bà Nguyễn Thị Tuyết N yêu cầu bồi thường số tiền 36.000.000đ; ông Lê Văn Đ đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì.

Tại phiên tòa, Bị cáo Diệp Lương T thừa nhận để có tiền tiêu xài nên từ tháng 9/2018 đến tháng 12/2018 bị cáo đã đặt mua giấy chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe giả mang tên người khác sau đó dán hình của mình vào và lên thành phố Đà Lạt lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Mai Đức T 01 xe máy hiệu HonDa AirBlade, chiếm đoạt của bà Huỳnh Thị Bích V 01 xe máy hiệu HonDa Vision, chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Tuyết N 01 xe máy hiệu HonDa Vision và chiếm đoạt của ông Lê Văn Đ 01 xe máy hiệu HonDa AirBlade. Tổng giá trị tài sản bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của những người bị hại là 114.830.000đ. Bị cáo đồng ý bồi theo yêu cầu của những người bị hại và không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Diệp Lương T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c Khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Diệp Lương T từ 05 - 06 năm tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 09 năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 35/2019/HSST ngày 12/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho ông Mai Đức T số tiền 33.000.000đ; bà Huỳnh Thị Bích V số tiền 36.500.000đ; bà Nguyễn Thị Tuyết N số tiền 36.000.000đ. Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo Diệp Lương T: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, bị cáo xin lỗi các bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về chăm sóc con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị hại bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Lê Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nhận thấy, quá trình điều tra bà N, ông Đ đã có lời khai đầy đủ tại cơ quan điều tra. Do đó, căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Để để có tiền tiêu xài và thỏa mãn cho nhu cầu sử dụng của cá nhân nên từ tháng 9/2018 đến tháng 12/2018 bị cáo đã dùng thủ đoạn đặt mua giấy chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe giả mang tên người khác sau đó dán hình của mình vào và lên thành phố Đà Lạt lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Mai Đức T, bà Huỳnh Thị Bích V, bà Nguyễn Thị Tuyết N và ông Lê Văn Đ. Tổng giá trị tài sản bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của những người bị hại là 114.830.000đ [4] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Diệp Lương T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c Khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có cơ sở và đúng pháp luật.

[5] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xử lý hình sự về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm và phạm tội nhiều lần nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự để xử lý bị cáo.

[6] Để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải của bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2019/HSST ngày 12/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đã có hiệu lực pháp luật nên cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của tội đang bị xét xử sau đó tổng hợp hình phạt của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi theo yêu cầu của những người bị hại. Vì vậy, cần ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Diệp Lương T bồi thường cho ông Mai Đức T số tiền 33.000.000đ; bà Huỳnh Thị Bích V số tiền 36.500.000đ; bà Nguyễn Thị Tuyết N số tiền 36.000.000đ. Đối với ông Lê Văn Đ đã nhận lại xe, không có yêu cầu gì nên không đặt ra để giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 300.000đ của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần tuyên trả cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo cho việc thi hành án.

Đối với 02 mặt sau giấy chứng minh nhân dân có mộc đỏ, mặt trước trắng; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trần Thanh Bình; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh Tâm; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Cường; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn Cường; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hồ Đình Công; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Thân Văn Xuyên; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Thân Văn Xuyên; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh Quang; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thanh Quang là chứng cứ quan trọng liên quan đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với chiếc 01 xe máy hiệu Honda AirBlade màu xám bạc, số khung 6301FZ797350, số máy JF63E1790418 ông Lê Văn Đ đã nhận lại nên không đặt ra để xem xét.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy S8 màu đen bị cáo T chiếm đoạt của người phụ nữ tên Phương được định giá có giá trị 7.000.000đ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Lạt đã xác minh, thông báo và truy tìm người bị hại tuy nhiên đến nay chưa xác định được người bị hại nên tách riêng ra, khi nào làm rõ sẽ được xử lý bằng vụ án khác.

Đối với biển số xe máy 60B9-29058 Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để điều tra làm rõ xử lý sau.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Diệp Lương T (tên gọi khác: Alex D, S) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Diệp Lương T (tên gọi khác: Alex D, S) 05 (Năm) năm tù. Tổng hợp hành phạt 09 (Chín) năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số 35/2019/HSST ngày 12/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo Diệp Lương T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2018.

- Áp dụng Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và các Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Diệp Lương T bồi thường cho ông Mai Đức T số tiền 33.000.000đ; bà Huỳnh Thị Bích V số tiền 36.500.000đ; bà Nguyễn Thị Tuyết N số tiền 36.000.000đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 300.000đ của bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án, theo biên lai thu tiền số AA/2017/0001261 ngày 10/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.

Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt có trách nhiệm bàn giao sang Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, 02 mặt sau giấy chứng minh nhân dân có mộc đỏ, mặt trước trắng; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trần Thanh Bình; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh Tâm; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Cường; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn Cường; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hồ Đình Công; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Thân Văn Xuyên; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Thân Văn Xuyên; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh Quang; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thanh Quang để lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

(Các vật chứng có đặc điểm cụ thể theo như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/6/2019 giữa Công an thành phố Đà Lạt và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt).

Về án phí:

- Áp dụng Khoản 2 Điều 135 và Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Diệp Lương T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 5.275.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo gửi đến Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm, riêng bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 113/2019/HS-ST ngày 05/08/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:113/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đà Lạt - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về