Bản án 113/2019/HS-ST ngày 02/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 113/2019/HS-ST NGÀY 02/10/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 02 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 117/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn G, sinh năm 1978 tại Bắc Giang; nơi cư trú tổ 4, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn V, sinh năm 1948 và bà Đỗ Thị N (đã chết), bị cáo có 01 người con, sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân:

Ngày 25/8/1997, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Tại bản án hình sự phúc thẩm số 119/HSPT ngày 25/8/2019).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2019 cho đến nay “có mặt”.

Người bị hại: Anh Trần Quốc K (tên gọi khác: T), sinh năm 1984; nơi cư trú ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; chổ ở hiện nay tổ 02, khu phố X, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1991; nơi cư trú khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 15 tháng 5 năm 2019, Trần Văn G mượn xe mô tô hiệu Honda biển số 22H4-1445 của Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) đi đến quán “C” thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ để uống cà phê, sau khi uống cà phê xong G ra dắt xe về thì làm nghiêng chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 93P1-498.62 của anh Trần Quốc K dựng bên cạnh xe G làm cho 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy S9+ có vỏ ốp lưng điện thoại màu đen ở giữa có tờ tiền mệnh giá 100 USD của anh K để ở trong hộc đồ phía trước rơi ra, quan sát không có ai trông coi, G nảy sinh ý định lấy trộm tài sản trên bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. G dùng tay nhặt chiếc điện thoại di động trên rồi điều khiển xe đến quán game thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ lấy điện thoại ra mở vỏ ốp vứt đi và lấy tờ tiền 100 USD cho vào túi và đưa điện thoại di động Samsung galaxy S9+ cho Nguyễn Ngọc L là bạn của G nhờ đem đi cầm cố giúp, do máy bị khóa nên G nói là máy của nhà G xem sửa giúp thì L đồng ý mang điện thoại trên đến tiệm cầm đồ “M” do anh Đào Văn T làm chủ để mở khóa thì bị anh K truy tìm phát hiện trình báo Công an phường T. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày Trần Văn G đến Công an phường T đầu thú.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 83/KLĐG ngày 21/5/2019 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9+ đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường có trị giá: 13.000.000 đồng.

- 100 USD có trị giá: 2.328.500 đồng.

- 01 ốp lưng điện thoại không rõ nhãn hiệu Cơ quan điều tra không thu hồi được nên không có cơ sở định giá.

Tổng cộng: 15.328.500 đồng.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ thu giữ 01 xe mô tô Honda biển số 22H4-1445; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9+ và 01 tờ tiền 100 USD.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9+ và 01 tờ tiền 100 USD cho anh Trần Quốc K.

Tại Bản cáo trạng số 116/CT-VKS-ĐX ngày 21/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ truy tố bị cáo Trần Văn G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị Trần Văn G mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc xe mô tô Honda biển số 22H4-1445, do chưa xác minh được chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiếp tục xác minh để có căn cứ xử lý sau.

Bị cáo G tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 116/CT-VKS-ĐX ngày 21/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản người phạm tội ra đầu thú, biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Lợi dụng anh Trần Quốc K sơ hở trong việc quản lý tài sản nên khoảng 13 giờ ngày 15/5/2019, tại quán “Cây Si” thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, Trần Văn G đã lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9+ có vỏ ốp lưng điện thoại màu đen ở giữa có tờ tiền mệnh giá 100 USD rơi từ cốp xe anh K ra, sau đó nhờ Nguyễn Ngọc L là bạn của G đem đi cầm cố tại tiệm cầm đồ “M” do anh Đào Văn T làm chủ để mở khóa thì bị anh K truy tìm phát hiện trình báo Công an phường T tạm giữ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 83/KLĐG ngày 21/5/2019 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9+ đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường có trị giá: 13.000.000 đồng.

- 100 USD có trị giá: 2.328.500 đồng.

- 01 ốp lưng điện thoại không rõ nhãn hiệu Cơ quan điều tra không thu hồi được nên không có cơ sở định giá.

Tổng cộng: 15.328.500 đồng.

Căn cứ vào hành vi bị cáo thực hiện và giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 15.328.500 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Bị cáo là người đã thành niên, hoàn toàn nhận thức được việc lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để lén lút chiếm đoạt tài sản là hành vi phạm tội nhưng vì mục đích tiêu vụ lợi mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại, là khách thể được pháp luật bảo vệ, bị cáo có nhân thân xấu: Năm1997, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Vì vậy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Bị cáo được xem xét các tình tiết giảm nhẹ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

Đối với Nguyễn Ngọc L là người được G nhờ đi sửa chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S9+ nhưng anh Lâm không biết điện thoại đó do G phạm tội mà có nên không đặt ra xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô Honda biển số 22H4-1445 mà G mượn của một người thanh niên tên Đ (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đang thu giữ và chưa xác minh được chủ sở hữu, cần tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại anh Trần Quốc K đã nhận lại tài sản là chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9+ và 01 tờ tiền 100 USD và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

 QUYẾT ĐỊNH

 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn G 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 16/5/2019.

3. Về trách nhiệm dân sư: Do các bên không ai có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo G phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 113/2019/HS-ST ngày 02/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:113/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Đồng Xoài - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:02/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về