Bản án 113/2019/HNGĐ-ST ngày 04/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 113/2019/HNGĐ-ST NGÀY 04/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 218/2019/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 6 năm 2019 việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 170/2019/QĐST-HNGĐ ngày 20/8/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số 04/4 ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Anh Cao Văn Đ, sinh năm 1981.

Đa chỉ: Số 228 ấp 9, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Chị H có mặt, anh Đ vắng mặt tại tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc H trình bày:

Chị và anh Cao Văn Đ kết hôn vào năm 2013, hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre;

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 3 năm, đến cuối năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không phù hợp dẫn đến thường xuyên cự cãi, không quan tâm lẫn nhau, chị và anh Cao Văn Đ đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Trong quá trình chung sống, chị và anh Cao Văn Đ có 1 con chung là Cao Thị Thùy D, sinh ngày 12/4/2015 hiện đang sống chung với chị.

Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Cao Văn Đ nữa, chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Chị H yêu cầu được ly hôn với anh Cao Văn Đ, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.

- Về con chung: Chị H và anh Cao Văn Đ có 1 con chung là Cao Thị Thùy D, sinh ngày 12/4/2015. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Cao Thị Thùy D, không yêu cầu anh Cao Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị H khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị H khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre đã hai lần triệu tập hợp lệ anh Cao Văn Đ đến để tiến hành hòa giải nhưng anh Cao Văn Đ vẫn vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện G mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay Nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện Bị đơn anh Cao Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn anh Cao Văn Đ đã không tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Ngọc H 

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng:

- Chị Phạm Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với anh Cao Văn Đ và được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Bị đơn anh Cao Văn Đ hiện đang cư trú tại ấp 9, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre. Do đó, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện G thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

- Bị đơn anh Cao Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Cao Văn Đ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc H và anh Cao Văn Đ kết hôn vào năm 2013, hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình chung sống, chị Phạm Thị Ngọc H cho rằng chị và anh Cao Văn Đ tính tình không phù hợp dẫn đến thường xuyên cự cãi, không quan tâm lẫn nhau, chị và anh Cao Văn Đ đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Chị đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, nay chị xác định không còn tình cảm với anh Cao Văn Đ nữa nên xin được ly hôn. Đồng thời, tại biên bản xác minh ngày 18/7/2019 thể hiện, theo chính quyền địa phương nắm được thì giữa chị H và anh Đ hay có cự cãi với nhau về kinh tế, tiền bạc; anh Đ thường xuyên yêu cầu chị H đưa tiền nhưng chị H không đưa nên anh Đ thường xuyên cãi nhau với chị H và đánh chị H; anh Đ còn là một trong những thành phần nghiện ma túy của địa phương. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ là có thật và cả hai không tìm cách tháo gỡ được làm cho hôn nhân giữa hai bên lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai.

[2.2] Về con chung: Chị Phạm Thị Ngọc H và anh Cao Văn Đ có 1 con chung là Cao Thị Thùy D, sinh ngày 12/4/2015. Chị H yêu cầu sau khi ly hôn chị được trực tiếp nuôi cháu Cao Thị Thùy D, không yêu cầu anh Cao Văn Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện tại cháu D còn rất nhỏ, đang sống chung với chị H và có cuộc sống, sinh hoạt ổn định nên Hội đồng xét xử chấp nhận để chị H là người trực tiếp nuôi con. Đồng thời, xét việc chị H không yêu cầu anh Cao Văn Đ cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung: Chị H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Chị H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân huyện G là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, chị Phạm Thị Ngọc H phải chịu theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc H đối với bị đơn anh Cao Văn Đ, cụ thể tuyên:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc H được ly hôn với anh Cao Văn Đ.

- Về con chung: Chị Phạm Thị Ngọc H được trực tiếp nuôi con chung là Cao Thị Thùy D, sinh ngày 12/4/2015. Ghi nhận việc chị Phạm Thị Ngọc H không yêu cầu anh Cao Văn Đ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh Cao Văn Đ được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích về mọi mặt của con chung, khi cần thiết các bên đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Ngọc H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Chị Phạm Thị Ngọc H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị Phạm Thị Ngọc H phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0004178 ngày 20 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre. Chị H đã nộp xong tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, chị Phạm Thị Ngọc H được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đối với anh Cao Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.


96
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 113/2019/HNGĐ-ST ngày 04/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:113/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Trôm - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 04/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về