Bản án 112/2019/HNGĐ-ST ngày 11/10/2019 về ly hôn giữa chị L, anh T

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 112/2019/HNGĐ-ST NGÀY 11/10/2019 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ L, ANH T

Ngày 11 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 358/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2019/QĐXX-ST ngày 05 tháng 9 năm 2019, giữa:

Nguyên đơn: Chị Mùng Thị L sinh năm 1997 (có mặt)

Bị đơn: Anh Trương Văn T sinh năm 1993 (vắng mặt)

Đều địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện Lục N, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/6/2019 và trong bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa chị Mùng Thị L là nguyên đơn trình bày: Chị kết hôn với anh T tháng 07/2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, cưới xong chị và anh T về chung sống với nhau ở N, xã B, huyện L. Đến tháng 07/2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và phát triển kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không bảo được nhau, việc của ai người ấy làm. Đến ngày 19/6/2019 anh T đã cầm dao hành hung, đe dọa, đánh đập chị, chị đã bỏ về gia đình mẹ đẻ ở từ đó cho đến nay, vợ chồng cũng chấm dứt mọi quan hệ tình cảm với nhau từ đó. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, Trương Anh Đoàn sinh ngày 18/5/2014, Trương Thị Ngọc Bích sinh ngày 16/12/2015. Hiện các cháu đang ở với anh Thượng, các cháu phát triển bình thường. Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cho chị trực tiếp nuôi con Trương Thị Ngọc Bích, còn Trương Anh Đoàn giao cho anh Thượng trực tiếp nuôi. Chị không yêu cầu anh Thượng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay chị vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.

Bị đơn anh Trương Văn Thượng trình bày trong các biên bản ghi lời khai: Anh và chị Lan kết hôn trên cơ sở tự nguyện hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng anh về chung sống với nhau ngay. Trong quá tình chung sống đến tháng 12/2018 chị Lan đi làm ở công ty Bắc Ninh, thường xuyên không về gia đình anh sinh sống mà về gia đình mẹ đẻ sinh sống. Khi anh điện thoại cho chị Lan nhưng chị Lan không trả lời. Đầu tháng 06/2019 anh lên gặp chị Lan bảo chị Lan về chung sống nhưng chị Lan không về, chị Lan còn lấy cốc nước hất vào anh, anh có bực tức tát chị Lan. Nay chị Lan đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh không nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung, Trương Anh Đoàn sinh ngày 18/5/2014, Trương Thị Ngọc Bích sinh ngày 16/12/2015. Hiện các cháu đang ở với anh Thượng, các cháu phát triển bình thường. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cho chị Lan trực tiếp nuôi hai con chung, anh cấp dưỡng mỗi tháng 3.000.000đ/1 con đến khi 2 con trưởng thành. Lý do anh muốn trực tiếp nuôi cả hai con bởi vì hiện tại anh phải đi làm ăn xa không có nhà.

Về tài sản chung, công nợ: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa hôm nay anh Thượng vắng mặt.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, anh Thượng không chấp hành nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của mình. Đề nghị HĐXX xét xử vụ án và áp dụng Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:

Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Mùng Thị Lan được ly hôn anh Trương Văn Thượng.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Mùng Thị Lan trực tiếp nuôi Trương Thị Ngọc Bích sinh ngày 16/12/2015, anh Trương Văn Thượng trực tiếp nuôi Trương Anh Đoàn sinh ngày 18/5/2014. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Lan, anh Thượng có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở chị Lan, anh Thượng thực hiện quyền này.

Về án phí: Chị Mùng Thị Lan phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của KSV, HĐXX nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lục Nam đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa lần 1, lần 2 cho các đương sự. Tại phiên tòa chị Lan có mặt, anh Thượng vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 BLTTDS, HĐXX đưa vụ án ra xét xử.

[2] Về nội dung: Chị Mùng Thị Lan kết hôn với anh Trương Văn Thượng ngày 11/7/2014 trên cơ sở tự nguyện hợp pháp. Cưới xong chị Lan về chung sống với anh Thượng ngay và hòa thuận đến tháng 07/2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong phát triển kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng không quan tâm gì đến nhau, việc của ai người đó làm, vợ chồng sống không có hạnh phúc, chị Lan đã về gia đình mẹ đẻ ở từ ngày 20/6/2019, vợ chồng cũng chấm dứt mọi quan hệ tình cảm với nhau từ đó. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị Lan, anh Thượng đã trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc. Nay xét thấy chị Lan đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Thượng là có căn cứ nên cho chị Lan được ly hôn anh Thượng là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung, Trương Anh Đoàn sinh ngày 18/5/2014, Trương Thị Ngọc Bích sinh ngày 16/12/2015. Hiện hai con chung đang ở với chị Lan và anh Thượng. Nếu ly hôn chị Lan yêu cầu được tiếp nuôi Trương Thị Ngọc Bích, còn cháu Trương Anh Đoàn chị Lan đề nghị giao cho anh Thượng được trực tiếp nuôi. Phía anh Thượng không chấp nhận yêu cầu của chị Lan và đề nghị Tòa án giao cho chị Lan trực tiếp nuôi hai con, anh trực tiếp cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000đ/1 con/1 tháng, 2 con là 6.000.000đ/1 tháng đến khi các con trưởng thành. HĐXX nhận thấy việc nuôi con chung là trách nhiệm của chị Lan và anh Thượng, chị Lan và anh Thượng đều có công việc ổn định, hơn nữa để đảm bảo cho các cháu phát triển tốt, chị Lan và anh Thượng đều có điều kiện chăm sóc các con, nay cần giao cho chị Lan được trực tiếp nuôi cháu Trương Thị Ngọc Bích, còn anh Trương Văn Thượng trực tiếp nuôi cháu Trương Anh Đoàn. Cấp dưỡng nuôi con chị Lan không yêu cầu, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Lan, anh Thượng được quyền thăm nom con, không ai được cản trở chị Lan, anh Thượng thực hiện quyền này. Xét như vậy là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản, công nợ: Chị Lan, anh Thượng không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Lan phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:

1.Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Mùng Thị Lan được ly hôn anh Trương Văn Thượng.

2.Về nuôi con chung: Giao cho chị Mùng Thị Lan trực tiếp nuôi Trương Thị Ngọc Bích sinh ngày 16/12/2015, anh Trương Văn Thượng trực tiếp nuôi Trương Anh Đoàn sinh ngày 18/5/2014. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn chị Lan, anh Thượng có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở chị Lan, anh Thượng thực hiện quyền này.

3.Về án phí: Chị Mùng Thị Lan phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị Lan đã nộp tại chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam ngày 28/6/2019 theo biên lai thu số AA/2017/0004120. Chị Lan đã nộp đủ.

Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Án xử công khai sơ thẩm./.


59
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 112/2019/HNGĐ-ST ngày 11/10/2019 về ly hôn giữa chị L, anh T

Số hiệu:112/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Nam - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 11/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về