Bản án 11/2020/HNGĐ-ST ngày 14/05/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PH THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 11/2020/HNGĐ-ST NGÀY 14/05/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 14 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 307/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2020/QĐXX-ST ngày 17 tháng 02 năm 2020 theo các quyết định hoãn phiên tòa số 11/2010/QĐST-HNGĐ ngày 28/02/2020; số 15/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19/3/2020 và quyết định tạm ngừng phiên tòa số 03/2020/ QĐST- HNGĐ ngày 16/4/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quang T - Sinh năm 1968.

Địa chỉ: Thôn T (Nay là thôn P), xã Q, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H - Sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T ( Nay là thôn P), xã Q, TP T, tỉnh Thanh Hóa

Tại phiên tòa anh T có mặt, chị H vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 7 năm 2019, tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Quang T trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau vào năm 1993 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Q, huyện Q,(nay là thành phố T). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, không thống nhất với nhau về cách cư xử trong gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh T đã từng nộp đơn ly hôn đến Tòa án 02 lần nhưng vì con cái còn nhỏ nên anh lại rút đơn về. Mâu thuẫn của vợ chồng vẫn không được cải thiện mà càng trầm trọng hơn kể từ năm 2015. Đến tháng 01/2019 chị H chuyển ra ngoài, vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thu U sinh năm 1995 và cháu Nguyễn Thị Khánh H sinh ngày 18/01/2003. Ly hôn anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu H và không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con. Cháu U đã thành niên nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn chị Nguyễn Thị H khai: Chị và anh T kết hôn năm 1993 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q. Quá trình chung sống đến năm 2011 chị bị U não nhưng anh T không quan tâm chăm sóc , đến năm 2018 thì mâu thuẫn trầm trọng và đến tháng 01/2019 vợ chồng sống ly thân chị đã chuyển đến nơi ở khác từ đó cho đến nay. Nay anh T làm đơn ly hôn chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn.

Về con cái: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thu u sinh năm 1995 và cháu Nguyễn Thị Khánh H sinh ngày 18/01/2003. Ly hôn nếu cháu H có nguyện vọng ở với chị thì chị nuôi và chị yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con 2.000.000 đồng/ tháng. Nếu cháu ở với anh T thì chị không cấp dưỡng tiền nuôi con, vì chị đang bệnh tật không có điều kiện. Cháu U đã thành niên nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng có các tài sản sau:

- Một căn nhà cấp 4 đang ở trên diện tích đất 78,4m2 thửa đất số 858, địa chỉ tại thôn P, xã Q, thành phố T. Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị Nguyễn Thị H.

- Một mảnh đất diện tích 102m2 tại thửa đất số 858 tờ bản đồ số 02 lô số 85 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị Nguyễn Thị H

- Một xe ô tô nhãn hiệu Honda City Biển kiểm soát 36A - 31413 màu mận chín hiện nay anh T đang sử dụng.

Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được hưởng 1/2 tài sản chung của vợ chồng.

Về công nợ: Vợ chồng không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ra thông báo yêu cầu chị H nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản và chi phí thẩm định định giá tài sản nhưng chị H không thực hiện việc nộp tạm ứng án phí cũng như lệ phí thẩm định định giá tài sản.

Tại phiên tòa anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị H vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý; Xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, người liên quan; thực hiện xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định; Việc giao nhận thông báo thụ lý cho VKS và cho đương sự thực hiện đúng quy định; chấp hành đúng quy định của BLTTDS về thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án:

Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã nộp yêu cầu khởi kiện, cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh để đảm bảo quyền và lợi ích của mình, có mặt theo giấy triệu tập và chấp hành các quyết định của Tòa án, tham gia phiên tòa và thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định tại điều 70, 71 và 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn: Bị đơn chấp hành các giấy triệu tập của Tòa án, có bản tự khai, tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS. Tại phiên Tòa bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt,

Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS để xét xử là đúng với quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập được, Viện kiểm sát thấy rằng: Xét về hôn nhân: Anh T và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào năm 1993 tại UBND xã Q, xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình sinh sống anh chị hòa thuận cho đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách, quan điểm sống không phù hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không được. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 01/2019 cho đến nay. Nay anh T xét thấy không còn tình cảm với chị H nên xin được ly hôn. Xét thấy, anh chị đã mâu thuẫn nhiều năm nay; mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung của anh chị không thể kéo dài. Anh T làm đơn ly hôn chị H cũng đồng ý. Vì vậy, đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 55 xử Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Quang T và chị Nguyễn Thị H.

Xét về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thu U sinh năm 1995 và cháu Nguyễn Thị Khánh H sinh ngày 18/01/2003. Nay anh chị ly hôn, Xét thấy, cháu H lâu nay vẫn ở với anh T, qua tham khảo nguyện vọng của cháu muốn được ở với bố, do đó giao cháu Huyền cho anh T trực tiếp và nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị H yêu cầu giải quyết tài sản chung của vợ chồng gồm:

Một căn nhà cấp 4 đang ở trên diện tích đất 78,4m2 thửa đất số 858, địa chỉ tại thôn P, xã Q, thành phố T. Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị Nguyễn Thị H.

Một mảnh đất diện tích 102m2 tại thửa đất số 858 tờ bản đồ số 02 lô số 85 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị Nguyễn Thị H.

Một xe ô tô nhãn hiệu Honda City Biển kiểm soát 36A - 31413 màu mận chín hiện nay anh T đang sử dụng.

Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được hưởng 1/2 tài sản chung của vợ chồng.

Đối với yêu cầu chia tài sản của chị H trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ra thông báo yêu cầu chị H nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản và chi phí thẩm định định giá tài sản nhưng chị H không thực hiện việc nộp tạm ứng án phí cũng như lệ phí thẩm định định giá tài sản. Do vậy không có căn cứ để xem xét giải quyết trong vụ án này mà Tòa án tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự chia tài sản chung sau khi ly hôn khi chị H có yêu cầu là phù hợp.

Về công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị H ( bị đơn) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần và đã cố đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị H.

[2]. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Quang T và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q thành phố T là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do trong cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Từ năm 2019 cho đến nay, anh T và chịu Hà đã sống ly thân, điều này đã được thể hiện qua lời khai của anh T, chị H và xác nhận của chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú. Nay anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên anh làm đơn ly hôn chị H, phía chị H cũng xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn của anh T chị H đến mức trầm trọng, căn cứ vào Điều 55 Luật hôn nhân gia đình công nhận sự thuận tình ly hôn của anh Nguyễn Quang T và chị Nguyễn Thị H.

[3] Về con chung: Anh T và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thu U sinh năm 1995 và cháu Nguyễn Thị Khánh H sinh ngày 18/01/2003. Ly hôn Cháu u đã thành niên nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu H và không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con. Qua tham khảo nguyện vọng cháu H muốn ở với bố, vì từ khi anh T chị H sống ly thân thì cháu H vẫn ở với anh T, chị H cũng đồng ý cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu H. Xét việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của anh T và chị H là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với nguyện vọng của con cái và phù hợp với quy định pháp luật. Vì vậy HĐXX căn cứ vào Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân gia đình giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Khánh H. về cấp dưỡng nuôi con anh T không yêu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con, xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết

Đối với yêu cầu chia tài sản của chị H trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ra thông báo yêu cầu chị H nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản và chi phí thẩm định định giá tài sản nhưng chị H không thực hiện việc nộp tạm ứng án phí cũng như lệ phí thẩm định định giá tài sản. Do vậy không có căn cứ để xem xét giải quyết trong vụ án này mà tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự chia tài sản chung sau khi ly hôn khi chị H có yêu cầu.

[5] Về công nợ chung: Anh T và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 228; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 55 ,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 1.1 điều 1 phần I, mục A Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Quang T và chị Nguyễn Thị H.

Về con: Anh T và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thu U sinh năm 1995 và cháu Nguyễn Thị Khánh H sinh ngày 18/01/2003. Ly hôn Cháu U đã thành niên và đã có gia đình nên Tòa án không giải quyết. Giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Khánh H. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con. Chị H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Giành quyền cho chị H khởi kiện bằng vụ dân sự khác về tài sản và công nợ chung khi có yêu cầu.

Về án phí: Anh T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh đã nộp theo biên lai số:A A/2018/0000295 ngày 07/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa Anh T đã nộp đủ.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Anh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2020/HNGĐ-ST ngày 14/05/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:11/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về