Bản án 11/2019/HS-ST ngày 26/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 11/2019/HS-ST NGÀY 26/02/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXXST-HS, ngày 13/01/2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn T - Sinh ngày 05/01/1985; tại tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Xóm 3, xã LQ, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn Q (đã chết) và bà Triệu Thị B, sinh năm 1959; vợ: Đặng Thị K, sinh năm 1987; con: Có 01 con sinh năm 2009;

Tiền án, tiền sự: Không.

* Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 71 ngày 26/02/2016 của Công an huyện Yên Sơn đối với Lý Văn T về hành vi đánh bạc, xử phạt bằng hình thức phạt tiền. T đã chấp hành nộp phạt ngày 03/3/2016.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 15 phút ngày 17/11/2018, tại Ủy ban nhân dân xã TQ, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Sơn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lý Văn T (trú tại xóm 3, xã LQ, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang) về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần bên phải đang mặc của T 02 túi nhỏ chứa tinh thể màu trắng, T khai là ma túy đá mua về để sử dụng. Tạm giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 22K4-7702; 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL bên trong có 02 sim viettel và 01 thẻ nhớ 4GB.

Tiến hành xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma túy đối với Lý Văn T, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể Lý Văn T.

Tại Kết luận giám định số 05/GĐKTHS ngày 19/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lý Văn T gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, số thứ tự 323 thuộc danh mục II C, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; khối lượng 0,251g (không phẩy hai năm một gam).

Quá trình điều tra Lý Văn T khai nhận:

Khoảng 7 giờ ngày 17/11/2018, T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 22K4-7702 (đăng ký xe mang tên Đặng Văn T trú tại thôn LC 1, xã TQ, huyện Yên Sơn, em rể T) đi xuống khu vực bến xe khách thành phố Tuyên Quang mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Tại cổng bến xe, T gặp và hỏi mua của người đàn ông (không xác định tên, tuổi, địa chỉ) 500.000 đồng ma túy đá. Người đàn ông nhận tiền, đưa lại cho T 02 gói nhỏ bằng ni lông màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. T cầm 02 gói ma túy cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe về nhà. Trên đường về, T rẽ vào nhà nghỉ LCV ở xóm Km9, xã TQ, huyện Yên Sơn thuê phòng 132 để sử dụng gói ma túy đá vừa mua được. Khi T đang ở trong phòng, chưa kịp sử dụng số ma túy vừa mua thì tổ công tác Công an huyện Yên Sơn kiểm tra, đưa T về trụ sở UBND xã TQ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma túy đối với T cho kết quả dương tính là do ngày 13/11/2018 T đã sử dụng ma túy đá bằng cách đốt hít lấy khói vào cơ thể.

Cáo trạng số 13/CT-VKS-YS ngày 28 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Lý Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

*Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2018.

*Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số Heroine đã thu giữ của bị cáo; đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL bên trong có 02 sim VIETTEL và 01 thẻ nhớ 4GB đã thu giữ của bị cáo, tại phiên toa bị cáo xác định không còn giá trị sử dụng bị cáo không xin lại nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ.

*Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo.

Bị cáo không tranh luận với Luận tội của Đại diện Viện Kiểm sát, nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 17/11/2018, tại phòng 132 nhà nghỉ LCV thuộc xóm Km9, xã TQ, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, Lý Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,251g (không phẩy hai năm một gam) Methamphetamine mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội phạm trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật Hình sự trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; hành vi của bị cáo còn là một trong các nguyên nhân làm ảnh hưởng đến cuộc sống, hạnh phúc gia đình; ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an T xã hội; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung trong T xã hội.

 [2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là dân tộc thiểu số, có bố đẻ tham gia dân công hoả tuyến được Nhà nước ghi nhận; tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để HĐXX áp dụng lên mức hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.

 [3] Về hình phạt bổ sung: HĐXX thấy rằng bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định là phù hợp.

 [4]. Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 0,251g (không phẩy hai năm một gam) Heroine đã đem giám định một phần, số còn lại đã niêm phong theo quy định nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL bên trong có 02 sim VIETTEL và 01 thẻ nhớ 4GB là tài sản của bị cáo không chuyên dùng vào việc phạm tội nhưng bị cáo xác định không còn giá trị sử dụng, bị cáo không xin lại nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

 [5]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

 [6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

 [7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Yên Sơn; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

* Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T vào ngày 17/11/2018 tại khu vực bến xe khách thành phố Tuyên Quang, T khai không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể không có căn cứ để điều tra, xử lý nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

* Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lý Văn T ngày 13/11/2018, Công an huyện Yên Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt: cảnh cáo. Nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt: Bị cáo Lý Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 17/11/2018.

2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên ngoài mặt trước bì niêm phong ghi chữ “ Tang vật vụ: Lý Văn T giám định ngày 17/11/2018” mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Lý Văn T, thành phần tham gia niêm phong và 05 (năm) hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang;

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL vỏ màu đen không có nắp sau; số IMEI 1: 355057091180266; IMEI 2: 355057091180274, bên trong có 02 sim VIETTEL và 01 thẻ nhớ 4GB. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/01/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Sơn).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HS-ST ngày 26/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:11/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Sơn - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về