Bản án 11/2019/HSST ngày 25/01/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. V, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 11/2019/HSST NGÀY 25/01/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2019/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/HSST- QĐXX ngày 11 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo:

Đỗ Trung H (tên gọi khác: Mõ), sinh ngày 11-02-1994 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; HKTT: số 297/11 đường T, phường B, TP V, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu; Nơi ở: phòng trọ số 10, nhà số 176/15/21 đường T, phường TP V, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thành T, sinh năm 1970 và bà Trần Thị V, sinh năm 1976; Bị cáo có vợ là Phan Nguyễn Tường V, sinh năm 1995 và có 01 con, sinh năm 2018; tiền sự và tiền án: không;

Nhân thân: Ngày 16-8-2013, Tòa án nhân dân TP V xử phạt 42 tháng tù giam, về tội: Cướp giật tài sản, đến ngày 30-6-2016, H chấp hành xong án phạt tù theo giấy chứng nhận số: 475/GCN của Trại giam X và đã đóng tiền án phí HSST 200.000 đồng vào ngày 31-12-2013 (BLĐT: 14 đến 17).

Bị cáo bị bắt ngày 01 tháng 10 năm 2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09h45’ ngày 01-10-2018, Nguyễn Văn P, sinh năm: 1995, chỗ ở: phòng trọ hẻm 100 đường X, phường T, TP V, gọi đến điện thoại di động số: 01218437862 gặp Đỗ Trung H hỏi mua 01 gói ma túy tổng hợp (MTTH tên gọi khác: Hàng Đá) với giá: 200.000 đồng. H đồng ý bán và hẹn địa điểm thực hiện việc mua bán tại phòng trọ của H. P đến phòng trọ số 10, nhà số 176/15/21 đường T, phường B, TP V gặp và đưa 200.000 đồng cho H, H bán 01 gói MTTH cho P, thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an TP V (Đội CSĐT TPMT CATPVT) kết hợp với Công an phường B, TP V bắt quả tang lúc 10h00’ cùng ngày. Cơ quan điều tra thu giữ được tang, tài vật của H gồm: 200.000 đồng (là tiền vừa nhận của con nghiện), 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu đen, kèm sim: 01218437862, Imel: 861102030220562; thu trên tay của Nguyễn Văn P: 01 gói nylon, hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (cả hai cùng khai là MTTH, H vừa bán cho P).

Quá trình điều tra ban đầu, Đỗ Trung H khai nhận: Năm 2012, H bị Tòa án nhân dân TP V xử phạt: 3 năm 6 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, đến tháng 6/2016 H chấp hành xong án phạt tù, về lại địa P. H sử dụng MTTH từ tháng7/2017 đến nay. Nguồn MTTH, H mua của người thanh niên tên T, không rõ lai lịch ở khu vực đường N, TP V bán với giá 500.000 đồng/1 gói để sử dụng và chia ra bán cho Nguyễn Văn P 02 lần, địa điểm đều tại phòng trọ số 10, nhà số 176/15/21 đường T, phường B, TP V. Cụ thể: lần thứ nhất, cách ngày bị bắt khoảng 2 tuần, H bán 01 gói MTTH với giá: 100.000 đồng, lần thứ hai, H bán 01 gói với giá: 200.000 đồng thì bị bắt quả tang. Cứ mỗi lần bán MTTH cho P, H lời ma túy để sử dụng.

Về sau, H chỉ nhận bán MTTH cho Nguyễn Văn P lần đầu thì bị bắt quả tang (BLĐT: 25 đến 28).

Tuy nhiên lời khai ban đầu của Đỗ Trung H phù hợp chứng cứ thu thập được và phù hợp lời khai của Nguyễn Văn P. P khai đã 02 lần đến phòng trọ số10, nhà số 176/15/21 đường T, phường B, TP V mua MTTH do H bán với số tiền, số lượng MTTH và thời gian mua bán như trên (BLĐT: 30, 31).

Bản kết luận giám định số: 284/GĐMT-PC09(Đ4) ngày 16 tháng 10 năm 2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận:

Mẫu chất kết tinh không màu- trong suốt chứa trong 01 (một) gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an phường 3 - CATP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đại úy Hoàng Văn Đang, Lê Văn Cung, Đỗ Trung H, “Nguyễn Văn P”, Đỗ Hồng Ngọc, “Nguyễn Việt Anh”, gửi đến giám định có khối lượng 0,0792 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.

Đối với Nguyễn Văn P, sau khi bị cơ quan điều tra bắt quả tang và ghi lời khai đã lợi dụng sơ hở bỏ trốn và người thanh niên tên Toàn ở khu vực đường N, TP V bán ma túy cho H, do không rõ lai lịch, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau.

Bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 08-01-2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố Đỗ Trung H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s, r khoản 1 Điêu 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đỗ Trung H mức án từ 07 đến 09 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật trong vụ án; tịch thu sung công quỹ 200.000 đồng và trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu đen, kèm sim: 01218437862, Imel: 861102030220562.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiêm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Lúc 10h00’ ngày 01-10-2018, tại phòng trọ số 10, nhà số 176/15/21 đường T, phường B, TP V, Đỗ Trung H bán 01 gói MTTH loại Hàng Đá cho con nghiện tên Nguyễn Văn P với giá: 200.000 đồng, thì bị Đội CSĐT TPMT CATPV kết hợp với Công an phường B, TP V bắt quả tang. Cơ quan điều tra thu giữ được tang, tài vật của H gồm: 200.000 đồng (là tiền vừa nhận của P), 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu đen, kèm sim: 01218437862, Imel: 861102030220562; thu trên tay của P: 0,0792 gam Methamphetamine. Tính đến ngày bị bắt, Đỗ Trung H đã 02 lần bán MTTH cho Nguyễn Văn P với giá từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/1 gói/1 lần, địa điểm thực hiện việc mua bán đều tại phòng trọ số 10, nhà số 176/15/21 đường T, phường B, TP V. Như vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân TP V xử phạt với mức án nghiêm khắc về hành vi “Cướp giật tài sản”, nhưng không lấy đó là bài học để tu sửa bản thân mà tiếp tục phạm tội, vì vậy cân cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội trước đó nên áp dụng điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về xử lý vật chứng:

- 01 gói ma túy niêm phong số 284/GĐ-PC54 (Đ4) ngày 16-10-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu đen, kèm sim: 01218437862, Imel: 861102030220562, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo;

- Số tiền 200.000 đồng là tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[6] Về án phí : Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Trung H (tên gọi khác: Mõ) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điêu 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015:

- Xử phạt: Đỗ Trung H 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 10 năm 2018.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy niêm phong số 284/GĐ-PC54 (Đ4) ngày 16-10-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 200.000 đồng;

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu đen, kèm sim:01218437862, Imel: 861102030220562;

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 74/BB.THA ngày 17-01-2019 và biên lại thu tiền số 0001670 ngày 17-01-2019.

4. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đông ) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


72
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HSST ngày 25/01/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:11/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về