Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 18/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/04/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 18 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 12/2019/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 01 năm 2019 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2019/QĐXX-ST ngày 02 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trương Thị P; sinh năm 1980 (có mặt). Địa chỉ: Khu Đ, thị trấn P, huyện B, tỉnh Bình Phước

Bị đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 (vắng mặt). Địa chỉ: Khu Đ, thị trấn P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 26/12/2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn Trương Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 29/8/2011. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì nẫy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau. Hiện nay chị không còn tình cảm vợ chồng với anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T mà không có nguyện vọng đoàn tụ gia đình với anh T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau chị P và anh T có 01 người con chung là Nguyễn Quang K, sinh ngày 25/8/2013. Sau khi ly hôn chị P có nguyện vọng được trực tiệp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho chị nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 21/01/2019 như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận tình trạng hôn nhân giữa anh và chị P, như chị P khởi kiện là đúng. Hiện nay chị P yêu cầu ly hôn với anh, anh đồng ý mà không có nguyện vọng đoàn tụ gia đình với chị P.

Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau anh chị có 01 con chung là Nguyễn Quang K, sinh ngày 25/8/2013, sau khi ly hôn anh thống nhất giao con cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về trình tự thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án:

Theo đơn khởi kiện của chị Trương Thị P yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn T, nơi cư trú của anh Nguyễn Văn T tại khu Đ, thị tấn P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án “Hôn nhân gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử Thành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung vụ án:

Xét quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Trương Thị P và anh Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 29/8/2011. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Trương Thị P và anh Nguyễn Văn T là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị P thấy rằng: Sau khi đăng ký kết hôn chị và anh T chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì nẫy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau, vì vậy chị Trương Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Bị đơn anh Nguyễn Văn T xác nhận tình trạng hôn nhân giữa anh và chị P như chị P yêu cầu khởi kiện là đúng, hiện nay chị P yêu cầu ly hôn với anh, anh đồng ý mà không có nguyện vọng đoàn tụ gia đình với chị P. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trương Thị P và anh Nguyễn Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị P là phù hợp.

Xét nguyện vọng nuôi con của chị Trương Thị P thấy rằng: Trong quá trình chung sống với nhau chị Trương Thị P và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là Nguyễn Quang K, sinh ngày 25/8/2013, sau khi ly hôn chị P có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K, anh T cũng đồng ý theo yêu cầu của chị P nên cần giao cháu K cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng: Chị Trương Thị P, anh Nguyễn Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Trương Thị P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[4]. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị P là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227; điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84; Điều 116; Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị P, chị Trương Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

[2] Về con chung: Giao con chung Nguyễn Quang K, sinh ngày 25/8/2013 cho chị Trương Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Quyền và nghĩa vụ của anh chị đối với con chung được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Chị Trương Thị P, anh Nguyễn Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Trương Thị P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị P đã nộp theo Biên lai thu số 0009119 ngày 08/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


98
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 18/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:11/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Đăng - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:18/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về