Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 18/02/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/02/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 18 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 775/2018/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐST- HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Th sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn 12, xã H , huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trịnh Quang H sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn 12, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 20 tháng 9 năm 2018 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, nguyên đơn là chị Phạm Thị Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trịnh Quang H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã Hoa Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Th và anh H chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, dẫn tới vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Anh H tự ý bỏ nhà ra đi từ năm 2006 đến nay không trở về.Tháng 3 năm 2018, chị Th có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Trịnh Quang H mất tích. Ngày 11/9/2018, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên đã ra Quyết định tuyên bố một người mất tích đối với anh Trịnh Quang H. Từ thời điểm Tòa án tuyên bố mất tích đến nay, anh H cũng chưa lần nào trở về gia đình và địa phương. Chị Th nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị Phạm Thị Th khai vợ chồng có 01 con chung tên Trịnh Công S sinh ngày 15/6/2003. Từ khi anh H mất tích, chị Th là người trực tiếp nuôi con chung. Trường hợp ly hôn chị đề nghị chị tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trịnh Công S. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Cháu Trịnh Công S có lời khai thể hiện nguyện vọng của cháu được ở với mẹ là chị Phạm Thị Th.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Th khai vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của bị đơn là anh Trịnh Quang H, song anh H đều vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên tòa.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Bị đơn là anh Trịnh Quang H chưa tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu điều tra có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Th và anh Trịnh Quang H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử chị PhạmThị Th được ly hôn anh Trịnh Quang H; giao hai con chung cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị Th và anh Trịnh Quang H đã được tòa án triệu tập hợp lệ, chị Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H tuy không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt song đã có quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Th, anh H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Th và anh Trịnh Quang H là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn, anh H tự ý bỏ nhà đi từ đó đến nay không trở về. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Phạm Thị Th được ly hôn anh Trịnh Quang H.

[2] Về con chung: Chị Phạm Thị Th khai vợ chồng có 01 con chung tên Trịnh Công S sinh ngày 15/6/2003. Từ khi anh H bỏ đi, chị Th là người trực tiếp nuôi con cháu Trịnh Công S. Trong trường hợp ly hôn chị Th có nguyện vọng để chị Th tiếp tục nuôi dưỡng cháu. Anh H không đến Tòa án trình bày ý kiến về con chung. Việc giao con cho ai nuôi cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như nguyện vọng của con chưa thành niên. Tài liệu xác minh thể hiện từ khi anh H bỏ đi đến nay chị Th vẫn trực tiếp nuôi con, việc nuôi con của chị Th vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt và đã ổn định. Mặt khác cháu Trịnh Công S có nguyện vọng được ở cùng chị Th. Vì vậy cần giao cho chị Th tiếp tục trực tiếp nuôi con là phù hợp với Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Th khai vợ chồng không có tài sản chung và không có vay nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị PhạmThị Th và anh Trịnh Quang H.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Trịnh Công S sinh ngày 15 tháng 6 năm 2003 cho chị Phạm Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trịnh Công S đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

2.2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị Th phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị Th đã nộp theo biên lai số 0000052 ngày 30/10/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị Th đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


126
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 18/02/2019 về ly hôn

Số hiệu:11/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 18/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về