Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 17/01/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BB, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/01/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 12 tháng 04 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện BB xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 269/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/QĐXX-ST ngày 11 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2019 và theo Thông báo tiếp tục phiên tòa số 01 ngày 27/3/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Phương Tr, sinh năm 1998(có mặt)

HKTT: Thôn1, xã Sông L, huyện BB, tỉnh Bình Thuận

Nơi cư trú: Thôn Nh, xã Sông L, huyện BB, tỉnh Bình Thuận

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Th, sinh năm 1994 (có đơn đề nghị xử vắng mặt)

Nơi cư trú:Thôn 1, xã Sông L, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Phương Tr trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đức Th tự nguyện yêu nhau, có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 06/01/2017 tại UBND xã Sông L. Sau khi cưới và kết hôn chị Tr và anh Th sống chung tại nhà cha mẹ chồng. Vợ chồng sống hạnh phúc nhưng chị Tr không có việc làm, anh Th không lo làm ăn nên cuộc sống phụ thuộc nhà chồng. Từ đó giữa mẹ chồng và con dâu không hòa thuận nhưng anh Th không thông cảm mà hay chửi vợ nên chị tự ẵm con về nhà mẹ ruột ở từ tháng 10/2018 đến nay. Trong thời gian chị đưa con về nhà mẹ ruột sống, anh Th có xuống nhà giành con chở về nhưng có hành động làm cha mẹ chị Tr phiền lòng nên từ đó giữa chị Tr và anh Th không thể hàn gắn tình cảm với nhau được nữa. Anh Th sống với gia đình anh, chị Tr sống với gia đình chị Tr, có lần chị và anh Th cũng muốn đoàn tụ nhưng không được do kinh tế vợ chồng hiện nay đang phụ thuộc cha mẹ hai bên, anh Th lại đi chấp hành án nên chị không đoàn tụ được và yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Đức Th.

- Về con chung: Có 01 người con chung là Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 20/6/2017. Hiện nay con đang sống với chị Tr. Chị yêu cầu nuôi con không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Nguyễn Đức Th trình bày tại hồ sơ vụ án: Thống nhất về hôn nhân giữa anh và chị Nguyễn Phương Tr có tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Sông L ngày 06/01/2017. Trong gia đình giữa mẹ chồng và con dâu có mâu thuẫn, chị Tr có nhắn anh về giải quyết, khi anh về thấy chị Tr đang xếp đồ chuẩn bị về nhà mẹ ruột nên anh có bực tức chửi chị Tr. Từ đó chị Tr ẵm con về nhà mẹ ruột ở từ tháng 10 năm 2018 đến nay. Trong quá trình chị Tr đi, anh có xuống nhà mẹ chị Tr giành con ẵm về, mục đích để chị Tr nhớ con mà quay về nhưng chị Tr không về. Anh yêu cầu đoàn tụ nhưng chị Tr không đồng ý.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Tr vẫn yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Đức Th và được anh Th đồng ý ly hôn theo đơn xin xử vắng mặt ngày 20/3/2019.

Về con chung: Anh Nguyễn Đức Th thống nhất vợ chồng có 01 người con chung là Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 20/6/2017 và đồng ý giao chị Tr trực tiếp nuôi con, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Đức Th thống nhất như chị Nguyễn Phương Tr trình bày không có tài sản chung và nợ chung.

+ Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 28, 68, 195, 196, 203, 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Phương Tr và anh Nguyễn Đức Th được ly hôn. Con chung: Chị Tr được quyền nuôi con chung là Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 20/6/2017. Anh Nguyễn Đức Th không cấp dưỡng nuôi con do chị Tr không yêu cầu.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Đức Th đã được tống đạt hợp lệ ba lần nhưng lần thứ hai bị đơn vắng mặt do trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa lần thứ hai và đưa ra xét xử hôm nay. Bị đơn có đơn xin xử vắng mặt là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quan hệ hôn nhân: Giữa chị Nguyễn Phương Tr và anh Nguyễn Đức Th được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 06/01/2017 tại UBND xã Sông L nên hôn nhân giữa chị Tr và anh Th là hôn nhân hợp pháp. Vì vậy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau cùng có nghĩa vụ đảm bảo điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình theo quy định tại Điều 19, Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình nhưng chị Tr và anh Th không có việc làm ổn định, sống dựa vào kinh tế gia đình hai bên nên làm cho hôn nhân rạn nứt, cả hai vợ chồng không chia sẻ nhau được những khó khăn trong cuộc sống nên có mâu thuẫn từ gia đình nhà chồng nhưng anh Th không thông cảm và có hướng giải quyết nên vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, chị Tr đã không còn chung sống như vợ chồng với anh Th từ tháng 10/2018 đến nay. Chị Tr vẫn yêu cầu ly hôn, anh Th có đơn xin xử vắng mặt và đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử thấy chị Tr và anh Th không còn ai tự nguyện sống chung và thực hiện nghĩa vụ vợ chồng tạo nên gia đình hạnh phúc đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận chị Nguyễn Phương Tr và anh Nguyễn Đức Th được ly hôn được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Hiện nay chị Nguyễn Phương Tr đã được anh Nguyễn Đức Th giao con chung là Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 20/6/2017 cho chị Tr nuôi, chị Tr đã đi làm có thu nhập và chị Tr yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn xin xử vắng mặt anh Th đồng ý theo yêu cầu của chị Tr. Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận người trực tiếp nuôi con giữa vợ chồng khi ly hôn của chị Tr và anh Th là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, đảm bảo quyền lợi ích chính đáng của vợ và con, phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tr và anh Th thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Phương Tr chịu án phí Dân sự sơ thẩm về ly hôn được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm a khoan 5 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử: + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Phương Tr được ly hôn anh Nguyễn Đức Th

+ Về con chung: Giao chị Nguyễn Phương Tr tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 20/6/2017. Anh Nguyễn Đức Th không cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Đức Th được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

+ Về án phí: Chị Nguyễn Phương Tr phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn nhưng được tính khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0016000 ngày 26/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện BB. Chị Tr đã nộp đủ tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

+ Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Nguyễn Phương Tr, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Đức Th vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ./.


67
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 17/01/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:11/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bắc Bình - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:17/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về