Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 11/04/2019 về hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐ-ST NGÀY 11/04/2019 VỀ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 11 tháng 4 năm 2019, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 287/2018/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXX-ST ngày 20 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị N Th Y, sinh năm 1994, có mặt.

HKTT: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh B.

Nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh B.

- Bị đơn: Anh Tạ V n T, sinh năm 1993, có mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 09/10/2018, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ngU đơn (chị Ngô Thị Y) trình bày: Chị và anh Tạ Văn T kết hôn có được tự do, tự nguyện tìm hiểu, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H ngày 24/4/2012. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh T làm dâu ngay và sống chung cùng gia đình. Quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng ban đầu bình thường, hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. NgU nhân mâu thuẫn là do anh T hay chơi bời không tu chí làm ăn, không có nghề nghiệp gì và không quan tâm đến vợ, con nên vợ chồng thường xU cãi nhau. Chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2018 đến nay và đã cắt đứt quan hệ tình cảm không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh T không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T. Hiện nay chị không có thai.

Bị đơn (anh Tạ Văn T) trình bày: anh và chị Ngô Thị Y kết hôn có được tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H như chị Y trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, chị Y về nhà anh làm dâu ngay và sống chung cùng gia đình. Thời gian vợ chồng sống hạnh phúc từ khi kết hôn được đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, ngU nhân anh xác định là do vợ chồng không thể có tiếng nói chung và không thống nhất trong cách nuôi dạy con cái nên vợ chồng thường xU cãi nhau. Anh và chị Y đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay và đã cắt đứt quan hệ tình cảm không còn quan tâm gì đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng với chị Y không còn, chị Y có đơn xin ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Chị Y và anh T đều xác định vợ chồng có 02 con chung là Tạ Kim U, sinh ngày 25/8/2012 và Tạ Kim A, sinh ngày 29/6/2015, hiện nay cả hai cháu đang ở với anh T và đều phát triển bình thường. Ly hôn, chị Y đề nghị Tòa án giải quyết để chị nuôi cháu Tạ Kim U, anh T nuôi cháu Tạ Kim A. Anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cả hai con. Về cấp dưỡng nuôi con, các đương sự xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác, công sức và các quan hệ khác: Chị Y và anh T đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụn : Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 09/10/2018 của chị Ngô Thị Y đây xác định là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ tranh chấp:

[2].1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Y và anh Tạ Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại UBND xã được xác định là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

[2].2. Xét yêu cầu về việc xin ly hôn của chị Y thấy rằng: qua các chứng cứ do các bên xuất trình, lời khai của người làm chứng được biết: vợ chồng chị Y, anh T từ khi kết hôn đã có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng tình cảm vợ chồng đã không duy trì phát triển được và sớm phát sinh mâu thuẫn. Xuất phát từ việc hai vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm, anh T hay chơi bời và không thường xU quan tâm đến gia đình nên vợ chồng hay cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng do vậy từ tháng 10 năm 2018 chị Y đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay và đã cắt đứt quan hệ tình cảm, không còn quan tâm đến nhau. Việc chị Y có đơn xin ly hôn anh T c ng đồng ý do xác định tình cảm vợ chồng không còn, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh T đã phát triển trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng điều 55 Luật hôn nhân gia đình để công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Y và anh T là phù hợp, cho nên yêu cầu xin ly hôn của chị Y cần được chấp nhận.

[2].2. Xét yêu cầu về việc nuôi con chung của hai bên thấy rằng: chị Y và anh T đều xác định vợ chồng có 02 con chung là Tạ Kim U, sinh ngày 25/8/2012 và Tạ Kim A, sinh ngày 29/6/2015, hiện nay cả hai cháu đang ở với anh T và đều phát triển bình thường. Ly hôn, chị Y đề nghị Tòa án giải quyết để chị nuôi cháu Tạ Kim U, anh T nuôi cháu Tạ Kim A. Anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cả hai con. Qua xác minh trao đổi với địa phương, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Y và anh T hiện đi làm công nhân mặc dù đều có thu nhập tuy nhiên cả hai bên c ng không thường xU ở nhà, do vậy không có đầy đủ điều kiện về thời gian, vật chất để chăm lo cho cả hai con chung đầy đủ bằng việc mỗi người nuôi một con chung của vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cho chị Y và anh T mỗi người nuôi dưỡng một con chung của vợ chồng là phù hợp, để các cháu có đủ điều kiện phát triển toàn diện tốt nhất. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của đứa trẻ cần giao cháu Tạ Kim U, sinh ngày 25/8/2012 cho chị Y nuôi dưỡng, anh Tạ Văn T nuôi cháu Tạ Kim A, sinh ngày 29/6/2015 là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Cho nên đề nghị được nuôi một con chung của chị Y cần được chấp nhận, không chấp nhận việc anh T đề nghị được nuôi cả hai con chung của vợ chồng. Anh T, chị Y được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2].3. Xét yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con của hai bên thấy rằng: tại Tòa án c ng như tại phiên tòa hôm nay, cả chị Y và anh T đều xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết xét thấy là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần được chấp nhận.

[2].4. Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác, công sức và các quan hệ khác: chị Y và anh T đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết cho nên không xem xét.

[3]. Tại phiên tòa hôm nay, KSV phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị Y và anh Tạ Văn T.

Về con chung: Giao chị Ngô Thị Y trực tiếp nuôi cháu Tạ Kim A, sinh ngày 29/6/2015, anh Tạ Văn T trực tiếp nuôi cháu Tạ Kim U, sinh ngày 25/8/2012. Anh T, chị Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau cho đến khi đương sự có yêu cầu. Anh T, chị Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Ngô Thị Y phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0001015 ngày 21/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác nhận chị Y đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị Y và anh Tạ Văn T.

Về án phí: Chị Ngô Thị Y phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0001015 ngày 21/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác nhận chị Y đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 11/04/2019 về hôn nhân gia đình

Số hiệu:11/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về