Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 04/06/2019 về ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY TIÊN - HÀ NAM

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐ-ST NGÀY 04/06/2019 VỀ LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 04 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXX-ST ngày 09 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương O, sinh năm 1996; Nơi ĐKNKTT: thôn B, xã Y, huyện D, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt; có đơn xin vắng mặt.

* Bị đơn: Anh Trương Văn C, sinh năm 1995; Địa chỉ: thôn B, xã Y, huyện D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương O trình bầy: Chị đăng ký kết hôn với anh Trương Văn C vào ngày 16/11/2015 tại UBND xã Y, huyện D, tỉnh Hà Nam trên cơ sở tự nguyện. 

Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống tại thôn B, xã Y, tình cảm vợ chồng hạnh phúc được khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C mải chơi, không chịu khó làm ăn, bỏ bê không có trách nhiệm với gia đình, ngoài ra còn do lối sống vợ chồng không hợp dẫn đến cãi vã xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau, thậm chí có lần xảy ra xô xát. Mặc dù đã được khuyên can, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện, vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2018 đến nay không quan tâm gì đến nhau. Nay chị nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh C.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trương Văn C trình bày: Về điều kiện thủ tục kết hôn của anh với chị Nguyễn Thị Phương O như chị O trình bày là đúng.

Anh thừa nhận vợ chồng anh chung sống tình cảm được khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chơi bời, nợ nần, không làm ăn mà chỉ mải chơi, bên cạnh đó còn do vợ chồng tính tình không hợp, không thông cảm, chia sẻ, động viên, không quan tâm gì đến nhau. Mặc dù bản thân anh đã điều chỉnh sinh hoạt để tìm sự hòa hợp nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện, vợ chồng ly thân nhiều lần, lần gần đây từ tháng 5 năm 2018 đến nay không quan tâm gì đến nhau. Nay chị O xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng cùng trình bày có một con chung là cháu Trương Tú A sinh ngày 09/11/2016, kể từ khi ly thân con chung do chị O nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị O xin được nuôi con chung và đề nghị anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng là một triệu đồng, chị trình bày hiện đang làm tại công ty TNHH ELITE G với mức thu nhập bình quân 4.200.000đ/tháng. Anh C cũng xin nuôi con và không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công sức, công nợ: các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Phương O và anh Trương Văn C. Về con chung giao chị O nuôi dưỡng cháu Tú A; về cấp dưỡng nuôi con: hàng tháng anh Trương Văn C phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị O là 1.000.000đ. Về tài sản chung, công nợ, công sức: không giải quyết, ngoài ra còn đề nghị về án phí.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt chị Nguyễn Thị Phương O và anh Trương Văn C tuy nhiên chị O có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, anh C vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị O, anh C.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương O và anh Trương Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện D, tỉnh Hà Nam đăng ký vào ngày 16/11/2015 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo hộ.

Sau ngày cưới vợ chồng chung sống được khoảng ba năm thì phát sinh mâu thuẫn là thực tế các bên đã thừa nhận. Nguyên nhân do tính tình không hợp, anh C là người chưa tu chí làm ăn, không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng xảy ra cãi vã, xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau, không quan tâm đến nhau, bỏ mặc nhau, ly thân nhiều lần rồi lại về chung sống, mặc dù đã được khuyên can nhưng vợ chồng vẫn sống ly thân từ tháng 5 năm 2018 đến nay không quan tâm gì đến nhau, nay chị O xin ly hôn thì anh C đồng ý. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh và tồn tại trong một thời gian, mặc dù các bên đã tự điều chỉnh để tìm sự hòa hợp và đã được khuyên can mà không được cải thiện nhận thấy đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy cần xử ly hôn giữa chị O, anh C là phù hợp thực tế và có căn cứ pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Trương Tú A sinh ngày 09/11/2016. Xét nguyện vọng nuôi con chung của các đương sự và để đảm bảo điều kiện nuôi con chung tốt nhất, tránh sự xáo trộn không cần thiết xét thấy hiện nay con chung còn nhỏ vì thế cần giao chị O tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trương Tú A. Về cấp dưỡng nuôi con chung: xét yêu cầu của chị O là có cơ sở và phù hợp nên chấp nhận theo đó buộc anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị O hàng tháng, mồi tháng 1.000.000đ, kể từ tháng 7 năm 2019 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: chị O phải chịu 300.000đ. Án phí cấp dưỡng nuôi con: anh C phải chịu 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân gia đình;

- Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.

1. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Phương O và anh Trương Văn C.

2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Phương O trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương Tú A sinh ngày 09/11/2016 kể từ tháng 7/2019 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh Trương Văn C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị O hàng tháng, mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng), kể từ tháng 7 năm 2019 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Các bên được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị O và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh C trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Phương O phải chịu 300.000đ.

Án phí cấp dưỡng nuôi con: anh Trương Văn C phải chịu: 300.000đ. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị O đã nộp theo biên lai số 0000387 ngày 08/1/2019 tại

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Tiên được đối trừ khi thi hành án.

Án xử công khai sơ thẩm; Chị O, anh C vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 04/06/2019 về ly hôn, nuôi con

Số hiệu:11/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Duy Tiên - Hà Nam
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về