Bản án 11/2018/HSST ngày 23/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 11/2018/HSST NGÀY 23/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 23 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Mường  Tè  xét  xử  sơ thẩm  công  khai  vụ  án  hình  sự  sơ  thẩm  thụ  lý  số: 13/2018/HSST, ngày 24 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXX-HSST, ngày 9 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

1. Phùng Và B - Tên gọi khác: Phùng Nhù X - Sinh năm 1971 tại xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu;

Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: La Hủ; Con ông Phùng Lò X - Sinh năm 1935 và con bà Ly Mì X (Đã chết); Chưa có chồng; Bị cáo có 05 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, có 01 tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa được xóa án tích; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/6/2017 đến ngày 01/7/2017 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng  đầu tháng 6 năm 2017, Phùng Và B đi lên khu vự xã Tà Tổng, huyện Mường Tè để làm thuê cho một gia đình người dân tộc Mông khoảng 10 ngày và được vợ chồng người Mông này trả công bằng thuốc phiện và thuốc cảm APC, sau đó B đi về nhà, đến ngày 28/6/2017 khi B đang hút thuốc phiện thì bị tổ công tác Công an huyện M bắt quả tang và thu giữ01 (Một) gói thuốc phiện; 118 viên thuốc cảm ký hiệu APC và 01 (Một) bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện.

Tại bản kết luận giám định tư pháp ngày 28/6/2017 của người giám định tư pháp theo vụ việc - Công an huyện Mường Tè  và bản kết luận giám định số:286/GĐ-KTHS ngày 20/7/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LaiChâu kết luận: Chất nhựa dẻo màu nâu đen, có mùi hắc vật chứng của Phùng VàB có tổng trọng lượng 1,52 gam, mẫu vật gửi đến giám định là thuốc phiện.

Tại bản cáo trạng số: 51/KSĐT-MT ngày 24 tháng 10 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè  truy tố Phùng Và B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"  theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1 Điều 194;điểm p khoản 1 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48/Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Khoản 3 Điều 7; Khoản 1 Điều249/ Bộ luật hình sự năm 2015:

- Xử phạt  Phùng Và B từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tùvề tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Áp dụng Điều 41/ Bộ luật hình sự và Điều 76/Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Không áp dụng khoản 5 Điều 194/ Bộ luật hình sự là phạt tiền đối với bị cáo, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, nhất trí với bản luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên.

XÉT THẤY

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 28/6/2017  Phùng Và B đã có hành vi tàng trữ 1,52 gam thuốc phiện mụcđích là để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội" Tàng trữ trái phép chất ma túy" vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194/ Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy,  gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hànhvi phạm tội. Do vậy Hội đồng  xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thànhngười lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và những quy định có lợi cho người phạm tội.

Đề nghị của kiểm sát viên là có cơ sở để chấp nhận, với tính chất hành vi phạm tội, số lượng ma túy đã thu giữ, nhân thân của bị cáo đối chiếu với khung hình phạt là phù hợp, các đề nghị về sử lý vật chứng, miễn án phí hình sự sơthẩm là đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự năm 2015 thì:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần xa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gamđến dưới 500 gam".

Theo hướng dẫn Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; Khoản 3Điều 7/ Bộ luật hình sự năm 2015 hướng dẫn áp dụng các quy định có lợi chongười phạm tội, xét thấy: Mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194/ Bộ luậthình sự năm 1999 nặng hơn so với mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều249/ Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên bị cáo có một tình tiết tăng nặng tráchnhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48/Bộ luật hình sự là "Tái phạm", do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249/ Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về tình tiết giảm nhẹ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử  bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46/Bộ luật hình sự.

Về nhân thân bị cáo:  Phùng Và B có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, bản thân là người sử dụng chất ma túy, đã có hai tiền án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy (năm 2008)" và "Mua bán trái phép chấtma túy (năm 2014)" sau khi chấp hành hình phạt trở về địa phương, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện chỉ vì mục đích thỏa mãn nhucầu sử dụng chất ma túy ( Thuốc phiện) của bản thân nên đã phạm tội.

Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 194/ Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 5 trăm triệu đồng, vì điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình và bản thân bị cáo khó khăn Hội đồng xét xử miễn hìnhphạt tiền cho bị cáo.

Vật chứng của vụ án là 118 viên thuốc cảm ký hiệu APC và 01 (Một) bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại Điều 41/Bộ luật hình sự và Điều 76/Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo là dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận là hộ nghèo số: 537/GCN-HN.HCN ngày 30/12/2016. Do vậy Hội đồng xét xử miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12/ Nghị quyết số: 326/2016/UNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Phùng Và B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm g khoản 1 Điều 48; Điểm p khoản 1Điều 46 /Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phùng Và B  02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ, thời hạn tạm giam là 04 (Bốn) ngày.

- Áp dụng Điều 41/Bộ luật hình sự và Điều 76/Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

+. Tịch thu, tiêu hủy 118 viên thuốc cảm ký hiệu APC và 01 (Một) bộ bàn đèn tự tạo dùng để hút thuốc phiện.

- Áp dụng Điều 99/Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; điểm đ khoản 1 Điều12/ Nghị quyết số: 326/2016/UNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủyban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Phùng Và B không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


109
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về