Bản án 111/2019/HS-ST ngày 20/09/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 111/2019/HS-ST NGÀY 20/09/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 113/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn P (tên gọi khác: P), sinh năm 1982 tại An Giang; nơi cư trú thôn B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; chổ ở hiện nay khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn Q, sinh năm 1956 và bà Ngô Thị Hoài P (đã chết), bị cáo có vợ là chị Vi Thị H, sinh năm 1987 và 01 người con sinh năm 2012; tiền án: Không;

Tiền sự 01: Ngày 13/02/2019, bị Công an phường T, thành phố Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPVPHC với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2019 cho đến nay “có mặt”.

Ni bị hại:

Anh Vi Ba D, sinh năm 1993 “có mặt”;

Anh Nguyễn Ngô Đ, sinh năm 1986 “có mặt”;

Cùng cư trú tại tổ 3, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Ni có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vi Thị H, sinh năm 1987; nơi cư trú tổ 03, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “có mặt”.

Ni làm chứng:

Chị Lê Thị T, sinh năm 1998; nơi cư trú tổ 3, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “có mặt”;

Anh Lê Thanh S (tên gọi khác: T), sinh năm 1978; nơi cư trú tổ 3, khu phố 3, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”;

Anh Phan Hồng K, sinh năm 1990; nơi cư trú xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 20/4/2019, gia đình anh Vi Ba D có tổ chức sinh nhật cho con trai tại nhà riêng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, thì khách về hết chỉ còn lại anh D cùng với anh Nguyễn Ngô Đ và anh H (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ngồi ăn uống phía trước nhà D. Lúc này, Trần Văn P chở chị Vi Thị H cùng Trần Thị Diệu N, Lê Thanh S, Trần Thị Diệu H, Dương Văn C, Phan Hồng K, Trần Thị Diệu M về nhà của H (cạnh nhà anh D) tại khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để tổ chức ăn uống. Trong lúc đang ăn thì P có mời D qua uống với P vài ly rượu nhưng D không qua nên giữa P và D đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, D bỏ đi ra ngoài. Khoảng 10 phút sau D quay lại thì giữa D và P tiếp tục cãi cọ, khi này H và H1 kéo P vào trong nhà H đóng cửa lại. Bên ngoài, Lê Thị T cãi cọ và xảy ra giằng co với H, M. D thấy T giằng co với H, M nên vào định can ra thì bị K dùng tay cản lại rồi bị S dùng tay đấm 02 cái vào đùi (chưa gây thương tích). Lúc này, P đi xuống bếp nhà H lấy 02 con dao Thái lan loại dao cán vàng dùng để gọt trái cây, đi vòng cửa sau nhà H đi lên trước cửa nhà D (do hai nhà có lối thông đằng sau) và dùng 01 con dao ném vào người D nhưng không trúng. Sau đó, D đứng dậy đi ra phía hàng rào cổng nhà đứng, P tiếp tục chạy xuống bếp nhà H lấy 01 con dao dài 33cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13cm, phần lưỡi dao làm bằng kim loại dài 20cm, bản rộng 5,5cm, mũi dao bằng đi từ cửa sau nhà H vòng ra trước. Tiếp đó, P dùng tay phải cầm con dao này hướng lưỡi dao về phía D chém trúng vào tay phải của D 01 cái gây thương tích, thấy vậy anh Đ vào can ngăn thì cũng bị P chém trúng 01 cái gây thương tích trên cánh tay phải.

Ngày 22/4/2019, anh Vi Ba D và anh Nguyễn Ngô Đ có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 142/2019/TgT ngày 26/4/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Phước kết luận thương tích của anh Vi Ba D như sau: Vết thương 1/3 giữa mặt trước – trong cánh tay phải đứt cơ nhị đầu đã phẫu thuật khâu vết thương => Tổn thương có đặc điểm của tổn thương do vật có cạnh sắc tác động gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 10%.

Tại bản kết luận giám định số 143/2019/TgT ngày 26/4/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Phước kết luận thương tích của anh Nguyễn Ngô Đ như sau:

Vết thương khuỷu tay trái dài 3cm còn chỉ khâu (đang lành sẹo) => Tổn thương có đặc điểm của tổn thương do vật có cạnh sắc tác động gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Đ thu giữ: 01 kéo kim loại dài 21 cm, cán màu đỏ; 01 cái kéo dài 21 cm, cán kéo làm bằng nhựa màu đen, phần lưỡi kéo bằng kim loại; 01 nón bảo hiểm màu đỏ hoa văn màu trắng, xanh, đen trên có chữ “Style” bên ngoài nón bị bể nứt; 01 nón bảo hiểm màu hồng có hoa văn màu đỏ, vàng, xanh; 02 chiếc dép xốp, màu xanh, kích thước (33x10) cm, trên dép có chữ “Vĩnh Ký”; 02 chiếc dép cao su màu vàng, dạng quai kẹp, kích thước (14,5x10) cm; 01 con dao Thái lan dài 21 cm, phần cán bằng nhựa màu vàng dài 10 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 11 cm, bản rộng 1,6 cm; 01 con dao dài 31 cm, phần cán dao bằng gỗ dài 8,5 cm phần lưỡi dao bằng kim loại dài 12,5 cm, bản rộng 6 cm; 01 con dao (dạng dao bào) dài 21 cm, có cán làm bằng gỗ, dài 10 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 11 cm; 01 con dao dài 38 cm, cán dao làm bằng gỗ dài 12 cm, phần lưỡi dao dài 26 cm, bản rộng 7,2 cm, mũi dao bằng; 01 con dao dài 33 cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13 cm, phần lưỡi dao dài 20 cm, bản rộng 5,5 cm, mũi dao bằng; 01 đoạn cây tre đã khô dài 1,9 m, đường kính 3,8 cm; 01 bếp gas màu trắng, đen, vàng, bị méo mó (đã qua sử dụng).

Tại Bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 12/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn P mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc tại phiên tòa bị cáo Trần Văn P đồng ý bồi thường cho người bị hại anh Vi Ba D số tiền điều trị thương tích là 10.000.000 đồng, đối với thương tích của người bị hại anh Nguyễn Ngô Đ do anh Đ không có yêu cầu bị cáo P bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy số vật chứng thu giữ trong vụ án hiện không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo Trần Văn P tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 12/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; phù hợp với kết luận điều tra, với kết luận giám định pháp y về thương tích cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Do bực tức trước việc cải nhau với anh Vi Ba D và việc anh D ném chiếc ghế nhựa về phía nhà chị Vi Thị H nên khi thấy vợ của anh D là chị Lê Thị T giằng co với H, M thì khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/4/2019 Trần Văn P đi xuống bếp nhà chị H lấy 02 con dao Thái lan loại cán vàng ném vào người D nhưng không trúng, khi anh D đứng dậy đi ra phía hàng rào cổng nhà thì P tiếp tục chạy xuống bếp nhà H lấy 01 con dao dài 33cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13cm, phần lưỡi dao làm bằng kim loại dài 20cm, bản rộng 5,5cm đi từ cửa sau vòng ra trước để chém 01 nhát trúng vào tay phải của D gây thương tích, khi anh Đ vào can ngăn thì cũng bị P chém 01 cái vào cánh tay phải.

Tại bản kết luận giám định số 142/2019/TgT ngày 26/4/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Phước kết luận thương tích của anh Vi Ba D như sau: Vết thương 1/3 giữa mặt trước – trong cánh tay phải đứt cơ nhị đầu đã phẫu thuật khâu vết thương => Tổn thương có đặc điểm của tổn thương do vật có cạnh sắc tác động gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 10%.

Tại bản kết luận giám định số 143/2019/TgT ngày 26/4/2019 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh Bình Phước kết luận thương tích của anh Nguyễn Ngô Đ như sau: Vết thương khuỷu tay trái dài 3cm còn chỉ khâu (đang lành sẹo) => Tổn thương có đặc điểm của tổn thương do vật có cạnh sắc tác động gây ra. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%.

Căn cứ vào hành vi bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo dùng con dao dài 33cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13cm, phần lưỡi dao làm bằng kim loại dài 20cm, bản rộng 5,5cm là hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho người bị hại anh Vi Ba D với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10% và thương tích cho anh Đ với tỷ lệ 3% và hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của những người bị hại, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc dùng con dao dài 33cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13cm, phần lưỡi dao làm bằng kim loại dài 20cm, bản rộng 5,5cm là hung khí nguy hiểm để chém vào tay phải của anh D là nguy hiểm và sẽ gây thương tích cho anh D nhưng vị bực tức trước việc cãi vả với anh D mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện, ngoài việc gây thương tích cho anh D, khi anh Đ chạy vào can ngăn bị cáo còn chém vào tay phải của anh Đ, qua đó thể hiện tính chất côn đồ, hung hãn trong hành vi phạm tội của bị cáo. Do bị cáo gây thương tích cho anh D và anh Đ nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng hình phạt là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bản thân bị cáo cũng đã có 01 tiền sự: Ngày 13/02/2019 bị Công an phường T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPVPHC với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc nên cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

[5] Bị cáo được xem xét tình tiết giảm nhẹ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; người bị hại cũng có một phần lỗi khi ném chiếc ghế nhựa về phía bị cáo và để xảy ra mâu thuẫn cải vả giữa hai bên. Đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa người bị hại anh Vi Ba D yêu cầu bị cáo Trần Văn P bồi thường số tiền điều trị thương tích là 10.000.000 đồng, yêu cầu của anh D được bị cáo P đồng ý, xét sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và người bị hại là hoàn toàn tự nguyện và không trái với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với thương tích của người bị hại anh Nguyễn Ngô Đ do anh Đ không có yêu cầu bị cáo P phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng vụ án: Xét thấy số vật chứng thu giữ trong vụ án như 01 kéo kim loại dài 21 cm, cán màu đỏ; 01 cái kéo dài 21 cm, cán kéo làm bằng nhựa màu đen, phần lưỡi kéo bằng kim loại; 01 nón bảo hiểm màu đỏ hoa văn màu trắng, xanh, đen trên nón có chữ “Style” bên ngoài nón bị bể nứt; 01 nón bảo hiểm màu hồng có hoa văn màu đỏ, vàng, xanh; 02 chiếc dép xốp, màu xanh trên dép có chữ “Vĩnh Ký”; 02 chiếc dép cao su màu vàng, dạng quai kẹp; 01 con dao Thái lan dài 21 cm, phần cán bằng nhựa màu vàng dài 10 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 11 cm; 01 con dao dài 31 cm, phần cán dao bằng gỗ dài 8,5 cm phần lưỡi dao bằng kim loại dài 12,5 cm bản rộng; 01 con dao dạng dao bầu dài 21 cm, có cán làm bằng gỗ, dài 10 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 11 cm; 01 con dao dài 38 cm, cán dao làm bằng gỗ dài 12 cm, phần lưỡi dao dài 26 cm; 01 con dao dài 33 cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13 cm, phần lưỡi dao dài 20 cm; 01 đoạn cây tre đã khô dài 1,9 m, đường kính 3,8 cm và 01 bếp gas màu trắng, đen, vàng, bị méo mó đã cũ hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 24/4/2019.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Trần Văn P có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại anh Vi Ba D số tiền 10.000.000 đồng.

“Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015”.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

4. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm:

01 kéo kim loại dài 21 cm, cán màu đỏ; 01 cái kéo dài 21 cm, cán kéo làm bằng nhựa màu đen, phần lưỡi kéo bằng kim loại; 01 nón bảo hiểm màu đỏ hoa văn màu trắng, xanh, đen trên nón có chữ “Style” bên ngoài nón bị bể nứt; 01 nón bảo hiểm màu hồng có hoa văn màu đỏ, vàng, xanh; 02 chiếc dép xốp, màu xanh trên dép có chữ “Vĩnh Ký”; 02 chiếc dép cao su màu vàng, dạng quai kẹp; 01 con dao Thái lan dài 21 cm, phần cán bằng nhựa màu vàng dài 10 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 11 cm;

01 con dao dài 31 cm, phần cán dao bằng gỗ dài 8,5 cm phần lưỡi dao bằng kim loại dài 12,5 cm bản rộng; 01 con dao dạng dao bầu dài 21 cm, có cán làm bằng gỗ, dài 10 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 11 cm; 01 con dao dài 38 cm, cán dao làm bằng gỗ dài 12 cm, phần lưỡi dao dài 26 cm; 01 con dao dài 33 cm, cán dao làm bằng gỗ dài 13 cm, phần lưỡi dao dài 20 cm; 01 đoạn cây tre đã khô dài 1,9 m, đường kính 3,8 cm; 01 bếp gas màu trắng, đen, vàng, bị méo mó đã cũ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0001709. Liên 1 lưu tại cuốn ngày 13/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Đ).

5. Về án phí sơ thẩm:

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo P phải chịu 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phải tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 111/2019/HS-ST ngày 20/09/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:111/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Đồng Xoài - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về