Bản án 111/2017/DS-ST ngày 25/08/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 111/2017/DS-ST NGÀY 25/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương  xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 415/2017/TLST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2017/QĐXXST- DS ngày 21 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; địa chỉ: Tầng 1-7, tòa nhà thủ đô, số 72, phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Thúc Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: Lầu 5, tòa nhà C, phường 12, quận T, thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 599/2017/UQ-GĐK-TDTD ngày 04/7/2017), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.- Bị đơn: Bà Phạm Thị Hồng D, sinh năm 1991; địa chỉ: 92/6C, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 20/6/2017 của Ngân hàng TMCP V và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phan Thúc Đ là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 12/12/2013, bà Phạm Thị Hồng D và Ngân hàng TMCP V (gọi tắt Ngân hàng) ký đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20131212-101028-0007 vay số tiền 14.910.000 đồng; trong đó: tiền vay 14.200.000 đồng và phí bảo hiểm 710.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, lãi suất 6,67%/tháng. Theo thỏa thuận, bà D có trách nhiệm thanh toán số tiền 22.128.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 12 tháng, mỗi tháng trả 1.844.000đồng. Thanh toán vào ngày 17 hàng tháng băt đâu từ ngày17/01/2014.

 Thực hiện hợp đồng, bà Phạm Thị Hồng D đã nhận đủ số tiền vay và thanh toán cho Ngân hàng 05 lần cả gốc và lãi với số tiền 9.220.000đồng. Kể từ ngày 10/7/2014, bà D không thanh toán bất cứ khoản tiền nào dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Nay Ngân hàng yêu cầu bà Phạm Thị Hồng D phải trả số tiền còn nợ 12.908.000 đồng.

Bị đơn bà Phạm Thị Hồng D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, tuy nhiên tại bản tự khai ngày 11/7/2017 bà trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP V (gọi tắt Ngân hàng) về việc vay tiền giữa bà với Ngân hàng theo đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20131212-101028-0007 ngày 12/12/2013. Bà D đã thanh toán được 5 lần với số tiền 9.220.000đồng, còn nợ Ngân hàng 12.908.000đồng. Việc chậm thanh toán cho Ngân hàng là do gia đình bà gặp khó khăn về kinh tế, nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà phải trả 12.908.000đồng thì bà đồng ý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:

[1] Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị Hồng D có địa chỉ tại 92/6C, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương phải trả số tiền nợ 12.908.000 đồng phát sinh từ “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20131212-101028-0007 ngày 12/12/2013. Vì vậy, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương được quy định tại khoản 3 Điều 26, điêm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 thì “Thời hiệu khởi kiện….tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày ngươi co quyên yêu câu biêt hoăc phai biêt quyên va lơi ich hơp phap cua minh bị xâm phạm”. Từ ngày 10/7/2014, bà Phạm Thị Hồng D không thanh toán tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. Ngày 20/6/2017, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán số tiền còn nợ nên thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng vẫn còn.

[3] Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phan Thúc Đ và bị đơn bà Phạm Thị Hồng D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Xét “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20131212-101028-0007 ngày 12/12/2013 được giao kết giữa Ngân hàng với bà D đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà D mới thanh toán cho Ngân hàng được 05 lần với số tiền 9.220.000đồng. Kể từ ngày 10/7/2014 đến thời điểm Ngân hàng khởi kiện, bà D không thanh toán tiếp số tiền nợ đến hạn, như vậy bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. Số tiền nợ và quá trình trả nợ cũng được bà Phạm Thị Hồng D thừa nhận nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.Vì vậyNgân hàng khởi kiện yêu cầu bà D phải trả số nợ gốc và lãi đến hạn  là 12.908.000đồng là có căn cứ chấp nhận.

[5] Do “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” không thỏa thuận về lãi quá hạn nên để bảo đảm quyền lợi của bên được thi hành án, trong trường hợp này bên phải thi hành án chậm thanh toán đối với nghĩa vụ trả tiền, cần buộc bên có nghĩa vụ trả tiền phải có trách nhiệm trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

[6] Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Hồng D phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cư Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2005; Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng 2010;Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Buộc bà Phạm Thị Hồng D có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mai cô phân V số tiền 12.908.000đồng (mười hai triệu chín trăm lẻ tám nghìn đồng) còn nợ phát sinh từ “Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20131212-101028-0007 ngày 12/12/2013.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Hồng D phải chịu 645.400 đồng (sáu trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm đồng). Trả lại cho Ngân hàng TMCP V 323.000 (ba trăm hai mươi ba ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009713 ngày 03/7/2017 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Ngân hàng TMCP V và bà Phạm Thị Hồng D đươc quyên khang cao ban án trong hạn 15 ngày, kê tư ngay nhân đươc ban an hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đƣợc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tạiĐiều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


55
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 111/2017/DS-ST ngày 25/08/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:111/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về