Bản án 110/2019/HS-ST ngày 22/08/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 110/2019/HS-ST NGÀY 22/08/2019 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 96/2019/TLST-HS ngày 10/7/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2019/QĐXXST-HS ngày 07/8/2019 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Văn L, sinh năm 1994 tại Hà Nam; Nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Trần Thị C; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/04/2019, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù về tội: “Không tố giác tội phạm” (tại bản án số 48/2019/HS-ST ngày 12/04/2019); bị bắt, tạm giữ ngày 25/03/2019, tạm giam từ ngày 03/04/2019 đến nay; có mặt.

2. Phạm Văn T, sinh năm 1989 tại Hà Nam; Nơi cư trú: Tổ M, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T (tên khác Phạm Xuân T) và bà Phạm Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/12/2015, Chủ tịch UBND phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thời hạn 03 tháng; bị bắt, tạm giữ ngày 27/03/2019, tạm giam từ ngày 02/04/2019 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Đinh Anh T, sinh năm 1989; trú tại: Xóm K, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Tiến P, sinh năm 1996; trú tại: Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1990; trú tại: Tổ dân phố B, phường T, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

3. Anh Phạm Văn H, sinh năm 1993; trú tại: Xóm A, Thị trấn B, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

4. Anh Phạm Xuân H, sinh năm 1992; trú tại: Tổ N, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

5. Anh Nguyễn Bá H, sinh năm 1982; trú tại: Thôn K, xã P, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1997; trú tại: Xóm C, thôn M, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 26/11/2018, Hoàng Văn L và Phạm Văn T đang ngồi chơi điện tử tại quán Mai Tuấn thuộc tổ 5, phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý thì Nguyễn Văn H nhắn tin cho L qua tài khoản Facebook, nhờ L tìm nơi cầm cố đăng ký xe môtô giúp anh Đinh Anh T lấy 5.000.000 đồng. L nói với T: “Em có thằng bạn đang nhờ cầm giấy tờ đăng ký xe máy Dream lấy 5.000.000 đồng”, sau đó L và T gọi điện hỏi một số cửa hàng cầm đồ nhưng không có nơi nào nhận cầm cố đăng ký xe máy giá 5.000.000 đồng. Do đang cần tiền chuộc lại chiếc xe máy điện mượn của cháu Trang (cháu của T) nên T với L bàn bạc, thống nhất bảo H dẫn Anh T mang xe môtô xuống Phủ Lý để mang xe đi cầm cố để lấy tiền chuộc lại xe máy điện của cháu Trang. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, anh Đinh Anh T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 90B1-838… cùng anh Nguyễn Văn H đến quán Internet Mai Tuấn để gặp L và T. Sau đó, L điều khiển xe môtô chở anh Anh T ra quán cầm đồ nói là phải kiểm tra số khung, số máy của xe mới cầm cố được giấy tờ xe, trên đường đi L gợi ý nếu không cầm cố được giấy tờ xe thì cầm cố cả xe nhưng anh Anh T không đồng ý. Khi đi đến khu vực phía sau Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Nam, L bảo anh Anh T đứng ngoài đợi và đưa giấy tờ xe để L mang vào hiệu cầm đồ kiểm tra, tưởng L nói thật nên anh Anh T xuống xe và đưa đăng ký xe cho L. Sau khi có được chiếc xe môtô BKS: 90B1-838… cùng giấy tờ xe, L điều khiển xe đến quán Internet của Nguyễn Tiến P ở tổ dân phố Đ, phường T, thành phố Phủ Lý cầm cố chiếc xe môtô cho P được 5.000.000 đồng. L cầm tiền đi xe taxi đến cửa hàng xe ở ngã tư Trần Thị Phúc - Đinh Tiên Hoàng thành phố Phủ Lý chuộc lại chiếc xe máy điện của cháu Trang mà T và L đã cầm cố từ ba ngày trước đó hết 3.300.000 đồng. Khi quay lại quán Internet Mai Tuấn để tìm T trả lại chiếc xe máy điện thì L gặp anh Anh T, T và H, L nói với H và anh Anh T về việc L đã cầm cố chiếc xe của anh Anh T nhưng anh Anh T không đồng ý mà yêu cầu L chuộc ngay lại xe. Thấy vậy, T bảo với L: “Xe này cũng không phải chính chủ của nó đâu, mày cứ tạm thời lánh đi, để tao giải quyết xong tao đón”, L nghe T nói vậy thì đồng ý, đưa cho T 1.000.000 đồng rồi quay ra nói dối anh Anh T là đi chuộc xe rồi bỏ đi. Sau đó T nhắn tin cho Nguyễn Văn S: “Thằng L đang cầm chiếc xe Dream có cả đăng ký chỗ thằng P giá 5.000.000 đồng, ông có cầm thêm cho nó được không”, S nhắn lại: “Ừ, bảo thằng L xuống đây”. Đến 21 giờ cùng ngày, T đón L và S rồi cùng đi xuống nhà Nguyễn Tiến P, S đưa cho L 5.000.000 đồng để L chuộc lại chiếc xe môtô BKS: 90B1-838… của anh Anh T và đưa thêm cho L 4.000.000 đồng để được quản lý chiếc xe, khoảng 02 tuần sau, L trả cho S được 2.500.000 đồng và còn nợ 6.500.000 đồng. Do thời gian này L chuyển đến ở phòng trọ của Phạm Văn H, L nói với H về việc đang cầm cố chiếc xe của anh Anh T cho Nguyễn Văn S, thấy vậy H đã bỏ ra 6.500.000 đồng rồi cùng L chuộc lại chiếc xe môtô từ S, khoảng 03 ngày sau H tìm gặp Phạm Xuân H nói: “Anh xem có chỗ nào quen cắm hộ em cái xe của ông anh em, không phải xe trộm cắp gì đâu anh yên tâm” thì được H đồng ý, H mang chiếc xe trên cầm cố cho anh Nguyễn Bá H (tên khác là Lợi) với giá 5.000.000 đồng.

Ngày 25/03/2019 và 27/03/2019, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn L và Phạm Văn T.

Vật chứng, tài sản thu giữ của vụ án là 01 xe môtô Honda nhãn hiệu Dream, BKS: 90B1-838… cùng giấy đăng ký xe do Nguyễn Bá H tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra ngày 25/03/2019.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 31/2019 ngày 14/02/2019, Hội đồng định giá tài sản thành phố Phủ Lý kết luận:“01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 90B1-838…, xe đã qua sử dụng giá 5.500.000 đồng”.

Bản cáo trạng số 101/CT-VKSPL ngày 09/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Hoàng Văn L và Phạm Văn T cùng về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với các bị cáo Hoàng Văn L và Phạm Văn T, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, Điều 17, Điều 38, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự đối với chung các bị cáo; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn L; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T:

- Xử phạt Hoàng Văn L từ 09 tháng đến 12 tháng tù và tổng hợp hình phạt tù với bản án số 48/2019/HS-ST ngày 12/04/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về tội: “Không tố giác tội phạm”.

- Xử phạt Phạm Văn T từ 12 đến 15 tháng tù.

- Truy thu số tiền do các bị cáo phạm tội mà có để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định pháp luật.

- Hình phạt bổ sung: Phạt mỗi bị cáo từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Văn L và Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Văn L và Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với chứng cứ của vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa bao gồm lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, đơn trình báo và lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, biên bản vụ việc, giải quyết nguồn tin về tội phạm, biên bản xác định hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 26/11/2018, lợi dụng việc anh Đinh Anh T nhờ dẫn đi cầm cố giấy đăng ký của chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 90B1- 838… trị giá 5.500.000 đồng, Hoàng Văn L và Phạm Văn T đã cùng nhau bàn bạc, thống nhất dùng thủ đoạn gian dối là yêu cầu anh Anh T đem xe đến để L dẫn đi kiểm tra số khung, số máy mới cầm cố được giấy tờ xe làm cho anh Anh T tưởng thật nên đã giao chiếc xe môtô 90B1-838… và đăng ký xe cho L quản lý. Khi có được xe môtô và giấy tờ xe của anh Anh T, L đã đem xe đi cầm cố để lấy tiền phục vụ mục đích tiêu sài cá nhân của L và T. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, vị trí, vai trò, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về nhân thân: Trong vụ án, các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Hoàng Văn L ngày 12/04/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang kết án về tội: “Không tố giác tội phạm” (đối với hành vi phạm tội xảy ra ngày 15/7/2018); bị cáo Phạm Văn T từng bị xử lý vi phạm hành chính hình thức giáo dục tại xã, phường có thời hạn (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).

Về vị trí, vai trò, mức độ phạm tội của các bị cáo: Trong vụ án, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, thực hiện tội phạm một cách tự phát, không có ai là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, có tổ chức, tài sản chiếm đoạt được các bị cáo đều sử dụng vào mục đích cá nhân. Tuy nhiên, xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mỗi bị cáo đã thực hiện thấy Hoàng Văn L là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò chính, Phạm Văn T tuy không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nhưng là người khởi xướng, tích cực bàn bạc, thống nhất cùng với Hoàng Văn L về cách thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm nên có vai trò thứ hai, cùng phải chịu hình phạt với Hoàng Văn L theo quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Phạm Văn T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên sẽ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo đều cố ý trực tiếp, không những gây hậu quả thiệt hại về tài sản cho người khác mà còn gây mất trật tự, an ninh, tạo nên tâm lý lo ngại, bức xúc trong nhân dân. Vì vậy, cần có mức án nghiêm minh bằng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội các bị cáo đã thực hiện, nhân thân của từng bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo ý thức tuân thủ pháp luật đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và tài sản riêng nên sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền, tịch thu tài sản…) đối với các bị cáo.

[6] Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo Hoàng Văn L đang phải chấp hành bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về tội: “Không tố giác tội phạm”, nay lại bị xét xử về tội phạm mới nên Hội đồng xét xử sẽ tổng hợp, quyết định hình phạt chung của cả hai bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

[7] Đối với Nguyễn Tiến Ph, Nguyễn Văn S, Phạm Văn H, Nguyễn Bá H là những người đã trực tiếp nhận cầm cố chiếc xe Honda Dream, BKS: 90B1-838…, do quá trình điều tra đã xác định khi cầm cố tài sản trên, Hoàng Văn L, Phạm Văn T đã không nói về nguồn gốc chiếc xe, mặt khác P, S, H và Bá H khi nhận cầm cố xe đều không biết chiếc xe do Hoàng Văn L và Phạm Văn T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra đã không xem xét, xử lý về mặt hình sự đối với Ph, S, H và Bá H là có căn cứ.

[8] Đối với đối tượng Phạm Văn H là người theo Hoàng Văn L khai biết rõ nguồn gốc chiếc xe môtô BKS: 90B1-838… do L lừa đảo mà có nhưng vẫn giúp L chuộc lại xe và tiếp tục đem xe đi cầm cố, do quá trình điều tra H không có mặt tại nơi cư trú, ngoài lời khai của L không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh H là đồng phạm của L nên Cơ quan điều tra chưa xử lý về mặt hình sự và tiếp tục xác minh đối với Phạm Văn H là có căn cứ.

[9] Về trách nhiệm dân sự trong vụ án:

Đối với tài sản các bị cáo chiếm đoạt của anh Đinh Anh T là chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 90B1-838… trị giá 5.500.000 đồng, quá trình điều tra đã thu hồi lại được và trả lại cho bị hại, anh Anh T không có yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự, vì vậy không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với yêu cầu của anh Nguyễn Bá H về việc Phạm Xuân H phải trả lại anh số tiền 5.000.000 đồng đã bỏ ra mua chiếc xe môtô 90B1-838…, do anh Nguyễn Bá H và anh Phạm Xuân H đều vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra các bên chưa có thỏa thuận, thống nhất nào về việc giải quyết yêu cầu này của anh H, ngoài giấy mua bán xe đã giao nộp không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện về việc các bên giao nhận số tiền mua, bán xe nên chưa có đủ điều kiện chứng minh yêu cầu của anh H là có căn cứ. Vì vậy, xét thấy cần tách yêu cầu này của anh H trong vụ án ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự trong vụ án khác khi đã có đủ các điều kiện chứng minh quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên là có cơ sở để không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự mà vẫn đảm bảo giải quyết triệt để, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về tài sản cho đương sự.

[10] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 90B1-838…, do quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Đinh Anh T nên ngày 19/6/2019 Cơ quan điều tra đã quyết định trả lại tài sản này cho bị hại. Vì vậy sẽ không đặt ra xem xét, giải quyết.

[11] Về tịch thu số tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm: Đối với số tiền 5.000.000 đồng các bị cáo có được từ việc lừa đảo, cầm cố chiếc xe môtô của anh Đinh Anh T, đây là khoản tiền xác định các bị cáo do phạm tội mà có nay sẽ buộc các bị cáo giao nộp lại để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; Điều 17, Điều 38, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự áp dụng chung đối với các bị cáo; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Bộ luật hình sự áp dụng đối với Hoàng Văn L; các điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự áp dụng đối với Phạm Văn T:

- Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn L và Phạm Văn T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L 18 (mười tám) tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tổng hợp hình phạt tù với bản án số 48/2019/HS-ST ngày 12/04/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (theo Quyết định thi hành án phạt tù đối với người bị xử phạt tù đang bị tạm giam số 61/2019/QĐ-CA ngày 17/05/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang) về tội“Không tố giác tội phạm”, buộc bị cáo Hoàng Văn L chấp hành chung hình phạt tù của cả hai bản án là 25 (hai mươi năm) tháng tù nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2018 đến ngày 13/9/2018. Thời hạn tù tính từ ngày 25/03/2019.

- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 15 (mười năm) tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/03/2019.

2. Tịch thu số tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự buộc các bị cáo Hoàng Văn L và Phạm Văn T giao nộp lại số tiền 5.000.000 đồng do phạm tội mà có để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước, cụ thể mỗi người giao nộp lại 2.500.000 đồng.

3. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự tách yêu cầu đòi lại số tiền 5.000.000 đồng của anh Nguyễn Bá H đối với anh Phạm Xuân H trong vụ án ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự trong vụ án khác khi đã có đầy đủ các điều kiện xác định giao dịch dân sự giữa các bên là có căn cứ, hợp pháp và anh Nguyễn Bá H có yêu cầu khởi kiện.

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Hoàng Văn L và Phạm Văn T mỗi người nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 110/2019/HS-ST ngày 22/08/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:110/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về