Bản án 109/2019/HS-ST ngày 18/06/2019 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 109/2019/HS-ST NGÀY 18/06/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 375/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1968 (Có mặt). Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh C; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T và bà: Châu Thị T; vợ: Lê Kim T; con: 02 người; tiền án, tiền sự: Không; cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/01/2019 cho đến nay.

Bị hại: Bà Phạm Thị L T, sinh năm 1961 (chết)

Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm C D, sinh năm 1961 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã H, thành phố C, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 18 giờ 30 phút ngày 01/12/2018, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 69F6-4597 chở ông Lâm Quang C ngồi phía sau, lưu thông trên tuyến đường hướng từ xã Đ, thành phố C về hướng H, thành phố C. Khi đến đoạn đường thuộc khu vực ấp C, xã H, thành phố C thì xe của Đ đi vào lỗ hỏng trên mặt đường nên lạc tay lái qua phía bên trái theo hướng xe chạy nên đụng vào xe mô tô mang biển số 69C1-045.82 do anh Hồ B H điều khiển chở bà Phạm Thị L T ngồi phía sau đang lưu thông theo hướng ngược lại với xe của Đ. Tai nạn xảy ra làm bà T bị thương nặng được đưa đến Bệnh viện đa khoa C cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy điều trị, đến khoảng 17 giờ 20 phút ngày 09/12/2018 thì tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện như sau:

Hiện trường là đường hai chiều, không dãi phân cách, không vạch kẻ phân tuyến, không có lề đường, không có hệ thống biển báo hiệu đường bộ, không có chướng ngại vật trên đường, đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường được làm bằng nhựa, tình trạng mặt đường nhiều lỗ hỏng.

Mặt đường rộng 3m5, lấy mép đường bên phải theo hướng xã H về hướng xã Đ làm lề chuẩn và lấy cột điện số 02A làm cột mốc cố định.

- Vị trí số 1: Dấu vết cày của xe 69F6-4597 dài 2m20, có chiều hướng từ hướng xã H về hướng xã Đ, đầu dấu vết cày đo vào lề chuẩn là 1m65, đo đến tâm bánh sau xe 69C1-045.82 là 2m10 và đo đến cột mốc là 10m20; dấu vết cày kết thúc tại vị trí xe 69F6-4597 ngã.

- Vị trí số 2: Vị trí xe 69F6-4597 ngã bên phải, đầu xe quay về hướng xã H. Tâm bánh trước đo vào lề chuẩn là 0m90, tâm bánh sau đo vào lề chuẩn là 1m10 và đo đến dấu vết máu là 4m80.

- Vị trí số 3: Vị trí xe 69C1-045.82 ngã bên phải, đầu xe lệch về hướng xã Đ.

Tâm bánh trước đo vào lề chuẩn là 0m80, tâm bánh sau đo vào lề chuẩn là 0m20.

- Vị trí số 4: Dấu vết máu đo vào lề chuẩn là 1m40.

Tại biên bản khám nghiệm xe mô tô 69C1-045.82, vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 05/12/2018, thể hiện:

- Trảng ba cong về sau, bánh xe trước bị lệch về bên trái;

- Ốp trước tay lái bị trầy xước, cụm đèn pha bị trầy xước;

- Vè chắn bùn trước bị bể và trầy xước;

- Cục chặn đầu tay nắm bên phải cong từ trên xuống dưới; Ốp bợ cổ bị nứt bể;

- Cánh bửng bên phải bị trầy xước; Ốp thân bên phải bị trầy xước;

- Ốp trước tay lái bên trái bị trầy xước; Cụm đèn tín hiệu trước bên phải bị trầy xước;

- Cánh bửng bên trái bị trầy xước; Gương chiếu hậu bên trái bị bể;

- Phuộc trước bên trái bị trầy xước; Ốp thân bên trái bị trầy xước;

- Đuôi vè chắn bùn sau bị gãy.

Tại biên bản khám nghiệm xe mô tô 69F6-4597 vào lúc 09 giờ 40 phút ngày 05/12/2018, thể hiện:

- Baga mũi bị trầy xước và cong từ dưới lên trên; Trảng ba cong về sau, từ phải qua trái; Logo mặt nạ trước bị văng mất; Vè chắn bùn trước bị trầy xước;

- Bánh trước bị cong vẹo; Cụm đèn tín hiệu trước bên phải bị bể;

- Đầu tay phanh bị trầy xước; Đầu cao su tay nắm bên phải bị trầy xước;

- Đùm bánh trước mép bên phải bị trầy xước và có dính chất bám màu đen;

- Niền bánh trước mép bên phải bị trầy xước và có dính chất bám màu đen;

- Phuộc trước bên phải bị trầy xước và có dính chất bám màu đen;

- Phanh chân bị trầy xước và cong từ trước ra sau;

- Gác chân chính bên phải bị trầy xước và cong từ trước ra sau; Đầu gác chân sau bên phải bị trầy xước; Đuôi ống xả bị trầy xước; Nắp ốp cốp bên phải bị văng mất;

- Tay dắt sau mép bên phải bị trầy xước; Gương chiếu hậu bên trái bị văng mất;

- Ốp mủ phuộc bên trái bị trầy xước.

Tại kết luận giám định pháp y tử thi số 215-GĐPY/2018 ngày 14/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Nguyên nhân tử vong của Phạm Thị L T là chấn thương sọ não.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 69C1-045.82 và 01 xe mô tô biển số 69F6-4597.

Tại bản Cáo trạng số: 112/CT-VKS ngày 20 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện bị hại yêu cầu xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật. Buộc bị cáo phải bồi thường tiền mai táng phí và điều trị tại bệnh viện tổng số tiền 140.000.000 đồng và bồi thường về tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường tiền mai táng phí và điều trị tại bệnh viện với tổng số tiền 140.000.000 đồng, đối trừ số tiền bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả 50.000.000 đồng, còn lại 90.000.000 đồng buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại. Đối với yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo pháp luật.

- Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 xe mô tô biển số 69F6- 4597.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/12/2018, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 69F6-4597 lưu thông trên tuyến đường hướng từ xã Đ, thành phố C về hướng xã H, thành phố C. Khi đến đoạn đường thuộc khu vực ấp C, xã H, thành phố C, do thiếu quan sát và không làm chủ tốc độ nên xe của Đ bị sụp ổ gà, đi qua phần đường bên trái va chạm vào xe của anh Hồ B H điều khiển chở bà Phạm Thị L T đâng lưu thông theo hướng ngược lại với xe của Đ gây tai nạn, hậu quả làm bà T tử vong.

Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông là Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 69F6-4597 khi tham gia giao thông trên đường, không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không đi bên phải theo chiều đi của mình, đi không đúng phần đường quy định đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.

Tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;”

Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người bị hại, gây mất mát đau thương cho gia đình của bị hại không gì bù đắp được. Do đó, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục một phần hậu quả cho bị hại. Do đó, bị cáo Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, đại diện bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiền mai táng phí và chi phí điều trị tại bệnh viện với tổng số tiền 140.000.000 đồng, đối trừ số tiền 50.000.000 đồng mà bị cáo đã khắc phục, còn lại số tiền 90.000.000 đồng yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của đại diện bị hại. Xét sự thỏa thuận trên giữa bị cáo và đại diện bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên được ghi nhận.

Đi với yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật của đại diện bị hại, xét thấy hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của bị hại, gây mất mát đau thương cho gia đình của bị hại không gì bù đắp được. Do đó, cần buộc bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại bằng 50 tháng lương tối thiểu với số tiền 69.500.000 đồng.

[6] Vật chứng vụ án gồm:

- 01 xe môt tô biển số 69C1-045.82 của ông Nguyễn V (cha vợ của anh Hồ B H). Ngày 22/02/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau đã trả lại chiếc xe nêu trên và giấy chứng nhận đăng ký xe 69C1-045.82 cho ông Nguyễn V là phù hợp.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 xe mô tô biển số 69F6-4597.

[7] Bị cáo phạm tội bị xét xử nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 591, 601 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 209.500.000 đồng. Bị cáo đã khắc phục số tiền 50.000.000 đồng được đối trừ. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền 159.500.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo không tự nguyện thi hành xong số tiền bồi thường, hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự

4. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 xe mô tô biển số 69F6-4597 (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 7.975.000 đồng (Bảy triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự có giá ngạch.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm, bị cáo và đại diện bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 109/2019/HS-ST ngày 18/06/2019 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

Số hiệu:109/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 18/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về