Bản án 109/2019/HS-ST ngày 11/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 109/2019/HS-ST NGÀY 11/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 11 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 96/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Đinh Văn T, sinh ngày 18 tháng 8 năm 1990 tại tỉnh Ninh Bình.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: Thôn T1, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn N, sinh năm 1964, con bà Đinh Thị M, sinh năm 1969, đều trú tại thôn Đ, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình; có vợ: Bùi Thị H, sinh năm 1992; con: Có 01 con sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 09/HSST ngày 06/02/2013 của TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 65/HSST ngày 14/11/2014 của TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đều đã được xóa án tích); bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tù trong vụ án khác từ ngày 21/01/2019 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Lý Văn N, sinh năm 1990.

Trú tại: Thôn N1, xã H1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Thôn B1, xã M1, huyện H2, tỉnh Lạng Sơn. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 03/01/2019, tại khu vực nhà của anh Lý Văn N ở thôn N1, xã H1, thành phố L, Đinh Văn T đã trộm cắp 01 chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 12D1-093.91 của anh Lý Văn N.

Tại Biên bản định giá tài sản số 06/ĐGTSTT ngày 08/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự kết luận: Chiếc xe mô tô Honda Wave màu sơn đen - trắng - bạc biển kiểm soát 12D1-093.91 trị giá 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn đồng chẵn).

Quá trình điều tra bị cáo Đinh Văn T khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 03/01/2019, bị cáo điện thoại liên lạc rủ Bùi Văn C (sinh năm 1989, trú tại: Thôn B1, xã K, huyện N, tỉnh Ninh Bình) đi từ huyện B, tỉnh Lạng Sơn ra thành phố L, tỉnh Lạng Sơn để trộm cắp tài sản. Bị cáo mang theo 01 vam phá khóa, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12F3-5919 mượn của ông Hoàng Đăng Q chở Bùi Văn C từ huyện B đi thành phố L. Khi đến khu vực nhà của anh Lý Văn N ở thôn N1, xã H1, thành phố L, bị cáo thấy trước sân nhà anh Lý Văn N có 01 chiếc xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 12D1-093.91, quan sát xung quanh không có người, bị cáo bảo Bùi Văn C ở ngoài cảnh giới còn bị cáo đi bộ vào sân dùng vam phá khóa phá ổ khóa điện xe mô tô và dắt xe mô tô ra ngoài đường, nổ máy, rồi điều khiển xe đi theo Quốc lộ 1A hướng Lạng Sơn - Hà Nội, Bùi Văn C điều khiển xe biển kiểm soát 12F3-5919 theo sau. Đến xã M1, huyện H2, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo bán chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được cho ông Nguyễn Thanh V được 3.800.000đồng. Bị cáo chia cho Bùi Văn C 1.900.000đồng. Số tiền còn lại bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết.

Bị hại, anh Lý Ngôn khai: Chiếc xe Honda Wave biển kiểm soát 12D1- 093.91 là của anh mua năm 2013 với giá 19.000.000đồng. Ngày 03/01/2019 anh để xe trước sân nhà, đi ăn cưới, khoảng 19 giờ cùng ngày anh về nhà thì không thấy xe nữa nên anh đến Cơ quan Công an trình báo việc mất trộm. Đến nay Cơ quan công an vẫn chưa thu hồi được chiếc xe. Anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường trị giá chiếc xe cho anh là 10.000.000 đồng và đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Thanh V trình bày: Ông quen Đinh Văn T từ khoảng năm 2010, khi đó Đinh Văn T học lái xe ở Trường Nông lâm Đông Bắc gần nhà ông nên có quen biết nhau. Ngày 03/01/2019, Đinh Văn T bán cho ông chiếc xe Honda Wave biển kiểm soát 12D1-093.91 giá 3.800.000đồng. Khi mua xe với bị cáo, ông không biết chiếc xe đó do bị cáo trộm cắp mà có vì bị cáo nói đó là xe của bị cáo, bị cáo cần tiền nên bán xe. Sau khi mua xe ông đã bán lại cho một người không biết tên, địa chỉ với giá 6.000.000đồng.

Tại Cáo trạng số 102/CT-VKSTP, ngày 10 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đinh Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn luận tội: Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tại sản, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo; bị cáo là người có nhân thân xấu. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù; tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 48/2019/HSST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 36 tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/01/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho bị hại anh Lý Văn N theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Đinh Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Qua đó Hội đồng xét xử thấy, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 12D1-093.91 của anh Lý Văn N. Với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Đinh Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong trong quần chúng nhân dân.

[4] Để quyết định hình phạt đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bản án số 09/HSST ngày 06/02/2013 của TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 65/HSST ngày 14/11/2014 của TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, hai bản án trên đều đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong vụ án này, ngày 21/01/2019, bị cáo lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại huyện C1, tỉnh Lạng Sơn. Tại bản án số 48/2019/HS-ST ngày 28/5/2019 của TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Điều đó thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, lười lao động, coi thường pháp luật.

[8] Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung, theo kết quả xác minh tại nơi cư trú của bị cáo cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập và tài sản riêng nên việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo sẽ không có tính khả thi. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[10] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12D1-093.91 bị cáo trộm cắp của anh Lý Văn N hiện vẫn chưa thu hồi được. Tại lời khai ở Cơ quan điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lý Văn N yêu cầu bị cáo phải bồi thường trị giá của chiếc xe là 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Lý Văn N số tiền 10.000.000 đồng như anh Lý Văn N yêu cầu nên Hội đồng chấp nhận.

[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Lạng Sơn về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Đối với Bùi Văn C, theo lời bị cáo khai là người đã cùng bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Kết quả xác minh hiện nay Bùi Văn C không có mặt ở địa phương, không biết ở đâu, làm gì nên chưa đủ căn cứ để điều tra, xử lý. Đối với ông Nguyễn Thanh V là người đã mua chiếc xe mô tô bị cáo trộm cắp, khi mua ông Nguyễn Thanh V không biết chiếc xe do bị cáo trộm cắp mà có nên không có cơ sở xử lý.

[14] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

[15] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589, 357 và 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 48/2019/HSST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/01/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản bị xâm phạm cho anh Lý Văn N số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm trả thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch sung Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 109/2019/HS-ST ngày 11/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:109/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 11/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về