Bản án 108/2018/HSST ngày 13/11/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 108/2018/HSST NGÀY 13/11/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 13 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 115/HSST ngày 18/10/2018; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2018/QĐXXST-HS ngày 01/11/2018 đối với bị cáo:

Lò Văn Đ. Sinh năm 1993 tại huyện Q, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKNKTT và nơi ở: Tiểu khu 6, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Thanh V (đã chết) và bà Lường Thị V1, sinh năm: 1947 cư trú tại tiểu khu 6, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Sơn La; Có vợ là Vì Thị H, sinh năm: 1996 cư trú tại tiểu khu 6, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Sơn La, có 01 con sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 8/7/2018, giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La cho đến nay; Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lường Thị V1, sinh năm:1947; Trú quán: Tiểu khu 6, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08.7.2018 tổ công tác Công an xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đang làm nhiệm vụ tại khu vực tiểu khu Quyết Thắng, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày, phát hiện đối tượng Lò Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM ANGEL +EZ 110, biển kiểm soát 26B1-128.83 đi theo hướng từ tiểu khu Quyết Thắng ra đường quốc lộ 6, có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu đối tượng có ma tuý thì tự giác giao nộp. Đ đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói lớp ngoàiđược bọc bằng 02 lớp nilon màu xanh bên trong chứa 10 viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên một mặt mỗi viên đều có ký hiệu “WY” nghi là ma túy tổng hợp (Hồng phiến) Đ đang cầm trong bàn tay trái. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn Đ và niêm phong vật chứng nêu trên. Kiểm tra thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGEL +EZ 110, gắn biển kiểm soát 26B1- 128.83, 01 điện thoại di động hiệu Masstel loại A126, vỏ màu đen kèm theo 01 sim.

Quá trình điều tra Lò Văn Đ khai nhận:

Khoảng 11 giờ 30 phV1 ngày 08.7.2018, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM ANGEL +EZ 110, biển kiểm soát 26B1- 128.83 đi từ nhà thuộc tiểu khu6, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Sơn La đến bản Mai Thuận, xã Cò Nòi, huyện MaiSơn, tỉnh Sơn La, tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân.

Đến khu vực cách bản Mai Thuận khoảng 300m, Đ gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng ở ven đường, Đ hỏi mua 500.000VNĐ hồng phiến, người đó bảo Đ đợi rồi đi bộ vào hướng bản Mai Thuận. Khoảng 01 tiếng sau, người đàn ông quay lại đưa cho Đ 01 gói nilon màu xanh, Đ cầm gói nilon mở ra thấy bên trong có 10 viên Hồng phiến, Đ gói lại như ban đầu và trả cho người đàn ông 500.000VNĐ. Đ cầm gói hồng phiến mua được trong bàn tay trái, điều khiển xe máy đi về nhà. Đi đến khu vực tiểu khu Quyết Thắng, xã Cò Nòi, Mai Sơn thì bị tổ công tác Công an xã Cò Nòi bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Ngày 08.7.2018 Công an huyện Mai Sơn phối hợp cùng phòng kỹ thuậthình sự công an tỉnh Sơn La cân tịnh, xác định:

Tổng khối lượng 10 viên nén màu hồng, trên một mặt mỗi viên đều có kí hiệu “WY” nghi là ma túy tổng hợp (Hồng phiến) trong gói vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn Đ là 1,03 gam; trích rV1 0,51 gam (05 viên nén), ký hiệu M để làm mẫu giám định. Vật chứng còn lại là 0,52 gam, ký hiệu T được niêm phong, bảo quản theo quy định.

Ngày 12.7.2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ban hành bản kết luận giám định số 872, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu M là chất ma tuý; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,51gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 1,03 gam”. Tại phiên tòa hôm nay,bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới.

Tại bản cáo trạng số: 93/CT-VKSMS 18/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Lò Văn Đ với nội dung: Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Mai Sơn để xét xử đối với bị cáo Lò Văn Đ về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Qua tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã phát biểu ý kiến, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt đối với bị cáo như sau:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu huỷ: 0,52gam methaphetamine; vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu; mảnh nilon gói ma túy ban đầu.

Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu MasstelA126 vỏ màu đen kèm theo 01 sim thu giữ của Lò Văn Đ;

Trả lại cho bà Lường Thị V1 01 xe máy mang nhãn hiệu ENGEL + EZ110, BKS: 26B1- 128.83, sơn mầu xanh, xám, số máy VMVDAB – H041462, số khung RLGMC 11HHBH041462.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ.

Bị cáo Lò Văn Đ tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng củaCơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 8.7.2018, Lò Văn Đ đã mua trái phép 500.000 VNĐ heroine mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Cò Nòi bắt quả tang, thu giữ 1,03 gam methaphetamine.

Lời khai của bị cáo Lò Văn Đ là hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn lập hồi 15 giờ 10 phV1 ngày 8/7/2018; biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rV1mẫu giám định của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn lập hồi 19 giờ 00 phV1 ngày 8/7/2018, kết luận giám định số 872 ngày 12/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, biên bản hỏi cung đối với Lò Văn Đ trong giai đoạn điều tra; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn Đ đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Với việc Lò Văn Đ tàng trữ 1,03 gam methaphetamine nhằm mục đích sử dụng thì Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Lò Văn Đ tại bản cáo trạng số: 93/CT-VKSMS ngày 18/10/2018 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Điều 249 BLHS quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine, Cocaine, Methaphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

[3] Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng,đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý cácchất ma tuý, làm tăng tệ nạn nghiện chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

 [4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy: Bị cáo Lò Văn Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo có đủ năng lực nhận thức trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bố bị cáo là ông Lò Thanh Vượng được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang và mẹ bị cáo là bà Lường Thị V1 là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sẽ được HĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đủ giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, từ đó mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa những hành vi tương tự sẽ và đang xảy ra.

 [5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo sống phụ thuộc vào gia đình, không có việc làm, thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

 [6] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Khi bắt quả tang bị cáo cơ quan điều tra thu giữ 1,03 gam methaphetamine, trích rút 0,51 gam làm mẫu giám định, vật chứng còn lại 0,52 gam; vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu và mảnh nilon gói ma túy ban đầu, xét thấy là chất độc dược Nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel A126 vỏ màu đen kèm theo 01 sim thu giữ của Lò Văn Đ xét thấy là tài sản hợp pháp của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cầm tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 xe máy mang nhãn hiệu ENGEL + EZ 110, BKS: 26B1- 128.83, sơn mầu xanh, xám, số máy VMVDAB – H041462, số khung RLGMC 11HHBH041462. Xét thấy là tài sản hợp pháp của bà Lường Thị V1 (mẹ đẻ của bị cáo), bà V1 không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe đi mua ma túy sử dụng. Do đó cần trả lại xe cho bà V1.

 [7] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ.

 [8] Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc ma túy Đ khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực bản Mai Thuận, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, việc mua bán không có ai biết, chứng kiến, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có cơ sở để điều tra xác minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù giam, thời gian thụ hình tính từ ngày 8/7/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu huỷ: 0,52gam methaphetamine; vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu; mảnh nilon gói ma túy ban đầu.

Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel A126 vỏ màu đen kèm theo 01 sim thu giữ của Lò Văn Đ;

Trả lại cho bà Lường Thị V1 01 xe máy mang nhãn hiệu ENGEL + EZ 110, BKS: 26B1- 128.83, sơn mầu xanh, xám, số máy VMVDAB – H041462, số khung RLGMC 11HHBH041462.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 108/2018/HSST ngày 13/11/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:108/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mai Sơn - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về