Bản án 99/2017/HSST ngày 18/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 99/2017/HSST NGÀY 18/07/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố (TP) Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 86/2017/HSST ngày 29 tháng 6 năm 2017, đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến D, sinh năm 1983, tại Phú Thọ; Nơi ĐKNKTT: 4/402/2 đường H, thị trấn Y, huyện G, TP Hà Nội; Chỗ ở: Thôn Y, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Nguyễn Minh H và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Trịnh Thu H (đã ly hôn); Con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 09/5/2017, chuyển tạm giam từ ngày 12/5/2017 đến nay; Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 8h30’ ngày 09 tháng 5 năm 2017, Nguyễn Tiến D ngồi uống nước ở khu vực cổng Trung tâm phòng chồng HIV/AIDS tỉnh Hà Nam thuộc phường L, TP P, gặp một người thanh niên tên Thiên (không rõ lai lịch, nhân thân) đến rủ góp tiền đi mua ma túy về sử dụng. D đồng ý ngồi sau xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) do Thiên điều khiển đi mua ma túy sử dụng, trên đường đi D nói “em không có tiền, chỉ có chiếc điện thoại anh mang đi cầm để lấy tiền mua ma túy” Thiên đồng ý, D đưa chiếc điện thoại nhãn hiệu Trung Quốc cho Thiên, Thiên cầm điện thoại đi được một đoạn rồi dừng xe và bảo D đứng chờ. Thiên điều khiển xe mô tô đi một lúc sau quay lại đưa cho D vỏ bao thuốc lá Thăng Long, biết trong có chứa gói ma túy D đút vào túi quần bên trái đang mặc rồi ngồi sau xe mô tô Thiên điều khiển đi tìm chỗ sử dụng. Khi đi đến đoạn đường 42m thì bị tổ tuần tra Phòng cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Hà Nam phát hiện yêu cầu dừng xe kiểm tra. Thiên dừng xe, D xuống khỏi xe, lợi dụng sơ hở, Thiên tăng ga bỏ chạy thoát, lực lượng Công an kiểm tra phát hiện trong túi quần bên trái của D có vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng, tại chỗ D khai nhận là gói ma túy cất giữ để sử dụng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong ký hiệu QT01; 01 ví màu đen bên trong có 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Tiến D.

* Khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Tiến D: không thu giữ đồ vật tài sản nào liên quan đến vụ án.

*Tại bản kết luận giám định số 86/PC54 ngày 11/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Chất bột màu trắng dạng cục bên trong gói giấy  bạc  màu  vàng  trong  phong  bì  niêm  phong  ký  hiệu  QT01  có  trọng  lượng 0,182gam, có Heroine”(Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT20, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính Phủ)”. 

* Quá trình điều tra Nguyễn Tiến D đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện trong vụ án.

Tại bản cáo trạng số 101/KSĐT-MT ngày 28 tháng 6 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố Nguyễn Tiến D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1-điều 194 Bộ luật hình sự.

*Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát ND TP Phủ Lý luận tội: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và khung hình phạt như bản cáo trạng, không có ý kiến gì thay đổi hoặc bổ sung đối với nội dung vụ án. Sau khi đánh giá, phân tích toàn diện vụ án, cũng như nhân thân bị cáo, đồng thời căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội áp dụng các quy định theo hướng có lợi cho người phạm tội, đề nghị HĐXX: xử phạt Nguyễn Tiến D từ 24 đến 30 tháng tù và đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ.

- Bị cáo Nguyễn Tiến D hoàn toàn thừa nhận hành vi bản thân đã thực hiện như cáo trạng đã nêu, đồng thời khai nhận cụ thể động cơ, mục đích và diễn biến toàn bộ hành vi mua và cất giấu trái phép ma túy vào sáng ngày 09/5/2017 cùng một người tên Thiện (không biết địa chỉ, lai lịch), tương tự như lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra. Bị cáo không có ý kiến tranh luận hoặc bào chữa gì, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên,bị cáo và những người tiến hành tố tụng khác.

XÉT THẤY

Đối chiếu lời khai nhận tội của Nguyễn Tiến D tại phiên tòa hôm nay với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, HĐXX thấy: cơ bản phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đó thu giữ, bản kết luận giám định về ma túy, lời khai người làm chứng tại hiện trường vụ án, cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09h30’ ngày 09/5/2017, tại khu vực tổ dân phố M, phường L, TP P, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Tiến D đang cất giữ trái phép 0,182 gam, có Heroine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Tiến D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1- điều 194 Bộ luật hình sự (BLHS) 1999.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo như bản cáo trạng là hoàn toàn thoả đáng, đảm bảo căn cứ pháp luật.

Tội phạm mà Nguyễn Tiến D thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, ngoài việc đã xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà Nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn ảnh hưởng rất xấu đến trật tự kỷ cương pháp luật, chuẩn mực đạo đức, lối sống và nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm khác trong cộng đồng.

Bản thân bị cáo là một đối tượng hình sự có nhân thân rất xấu, trước đó vào các năm 2002, 2007 đã có đến 02 tiền án đều về tội phạm cùng loại (đã được xóa án tích) đã bị xử lý nghiêm minh bằng các hình phạt tù. Đến năm 2011 tiếp tục có 01 tiền sự “Đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc” đã được xóa, nhưng vẫn không lấy đó làm bài học để cải tạo, hoàn lương trở thành người có ích, để thoả mãn cơn nghiện đã bất chấp pháp luật mua Hêrôin sử dụng, ngay cả trong khi đang điều trị cai nghiện, tiếp tục lao sâu vào con đường phạm tội. Hành vi đó còn tác động xấu làm “trẻ hoá” tỷ lệ  thanh niên nghiện ma tuý tại địa phương, đặc biệt đã tạo cơ hội cho những phần tử xấu lợi dụng thị trường để buôn bán ma tuý, gây ra nhiều hệ lụy xấu cho xã hội.

Đánh giá tính nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy cần phải ra một bản án nghiêm khắc, tuyên một mức phạt tù, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để giáo dục và cảm hoá bị cáo trở thành người công dân tốt, cũng như răn đe, phòng ngừa các hành vi tương tự trong cộng đồng.

Tuy nhiên, khi lượng hình phạt cần phải xem xét:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình giải quyết vụ án bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi đã thực hiện. Lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ trong vụ án có trọng lượng không đáng kể. Mặt khác, mặc dù Bộ luật hình sự 2015 chưa có hiệu lực pháp luật, nhưng thấy hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã phạm vào Khoản 1- điều 249 BLHS năm 2015 với hình phạt quy định từ 01 năm đến 05 năm tù (nhẹ hơn hình phạt quy định tại Khoản 1- Điều 194 BLHS năm 1999 từ 02 năm đến 07 năm tù). Do đó, căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, HĐXX sẽ áp dụng để quyết định hình phạt theo hướng có lợi cho bị cáo theo tinh thần như đã hướng dẫn tại Nghị quyết.

Với phân tích trên, HĐXX sẽ cân nhắc để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng, cũng như thể hiện được chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.

* Hình phạt bổ xung:

Xét mục đích phạm tội của bị cáo không nhằm trục lợi cá nhân, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ xung (là phạt tiền) đối với bị cáo theo Điều 30 và Khoản 5- điều 194 Bộ luật hình sự.

* Xử lý vật chứng:

- Toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo (được hoàn trả sau giám định) cần phải tịch thu và tiêu huỷ.

- 01 ví giả da màu đen và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 là tài sản và giấy tờ cá nhân của Nguyễn Tiến D, không liên quan đến tội phạm, nên trả lại cho bị cáo.

*Về nguồn gốc số Heroine thu giữ trong vụ án: quá trình điều tra và tại Toà, Nguyễn Tiến D đã cùng đi mua với 01 người đàn ông tên Thiên (không biết lai lịch). Cơ quan CSĐT- Công an TP Phủ Lý đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người này. Do đó, không có căn cứ để xử lý theo pháp luật, HĐXX không đề cập.

* Bị cáo có nghĩa vụ nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Khoản 1- điều 194; Điểm p- khoản 1- điều 46; Điều 33 BLHS năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Khoản 3- điều 7 và Khoản 1- điều 249 BLHS năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Tiến D 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2017.

2/ Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Tiến Dũng45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

3/ Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì đã niêm phong, mặt trước ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01 số 86/PC54-MT” của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến D: 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Tiến Dũng; 01 ví giả da màu đen đã cũ.

(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/6/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam).

4/  Căn  cứ  Điều  99,  231,  234  Bộ  luật  tố  tụng  hình  sự;  Nghị  quyết  số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Nguyễn Tiến D phải nộp 200.000đ.

- Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hin theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.


103
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về