Bản án 107/2019/HSST ngày 12/08/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 107/2019/HSST NGÀY 12/08/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 12/8/2019 Tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 100/2019/HSST ngày 18 tháng 6 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2019/QĐXXST- HS ngày 01/8/2019 đối với bị cáo:

1. Họ tên: Lò Văn T. Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1973, tại Điện Biên. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Bản N1, xã NT, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Dân tộc: Thái;

Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Làm ruộng.Trình độ học vấn:2/10 Con ông: Lò Văn M( đã chết). Con bà: Lò Thị K, sinh năm 1940. Bị cáo có vợ 1 Lò Thị L (đã chết), vợ 2 Vì Thị D, sinh năm 1966. Bị cáo có 3 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/5/2019. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Người có nghĩa vụ liên quan: Vì Văn C sinh năm 1989. Trú tại: Bản P 2, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt).

3. Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Trần D - Luật sư của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 07/5/2019, Lò Văn T một mình từ nhà đi bộ ra cánh đồng thuộc bản N, xã NT để tìm mua Heroine về sử dụng và bán lại cho người khác. Khi đến khu vực cánh đồng thuộc bản N1, T gặp và mua được 01 gói Heroine của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, T mang về nhà ở bản N 1, xã N, huyện Đ. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi T đang ở nhà thì Vì Văn C, sinh năm 1989 ở bản P 2, xã NT, huyện Đ đến nhà hỏi mua 100.000 đồng Heroine của T. T đồng ý và lấy một ít Heroine từ số Heroine mua được rồi dùng mảnh giấy trắng gói lại đưa cho C. C nhận gói Heroine và đưa cho T 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. T cất tiền và số Heroine còn lại vào túi quần bên phải đang mặc trên người. Vì Văn C sau khi mua được Heroine của T đã mang ra phía sau cánh rừng thuộc bản Pa2, xã N sử dụng hết bằng hình thức chích. Hồi 14 giờ ngày 07/5/2019, khi Lò văn T đang ở nhà thì bị Tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã N phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên phải T đang mặc 01 cục Heroine và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 07/5/2019 đã xác định: Toàn bộ số cục bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang của bị cáo có khối lượng là 0,33 gam, trích 0,07 gam gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 495/GĐ-PC09 ngày 16/5/2019 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là ma túy loại heroine, không hoàn lại mẫu vật sau khi giám định.

Tại bản cáo trạng số 99/CT-VKSĐB ngày 17/6/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: " Mua bán trái phép chất ma túy theo Khoản 1 Điều 251/BLHS.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251/BLHS 2015; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS: Xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Áp dụng Điểm b, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng của vụ án;

Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016, đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí đối với bị cáo.

Tại bản luận cứ bào chữa: Người bào chữa cho bị cáo nhất trí quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, quyết định xét xử của Tòa án đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai. Bị cáo thành khẩn khai báo và có bố đẻ là ông Lò Văn M được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, nên đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS. Bị cáo là dân tộc sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo; Bị cáo hoàn toàn nhất trí bản luận cứ bào chữa của Người bào chữa không có ý kiến bổ sung vào bản luận cứ.

Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T một lần nữa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã trình bày ở trên. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND huyện Đ, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Khoảng 12 giờ ngày 07/5/2019, Lò Văn T một mình từ nhà đi bộ ra cánh đồng thuộc bản N1, xã NT để tìm mua Heroine về sử dụng và bán lại cho người khác. Khi đến khu vực cánh đồng thuộc bản N1, T gặp và mua được 01 gói Heroine của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, T mang về nhà ở bản N 1, xã N, huyện Đ. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi T đang ở nhà thì Vì Văn C, sinh năm 1989 ở bản P 2, xã NT, huyện Đ đến nhà hỏi mua 100.000 đồng Heroine. T bán cho C 01 gói Heroine.Vì Văn C sau khi mua được Heroine của T đã mang ra phía sau cánh rừng thuộc bản P2, xã NT sử dụng hết bằng hình thức chích. Hồi 14 giờ ngày 07/5/2019, khi Lò Văn T đang ở nhà thì bị Tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã N phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên phải T đang mặc 01 cục Heroine và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.

Khối lượng 01 cục heroine thu giữ khi cân là 0,33 gam. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được ghi tại biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;

Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt mà pháp luật quy định do hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

[2]. Xét tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi đó đã làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa bàn xã N nói riêng và huyện Đ nói chung. Hành vi đó đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, làm lan tràn tệ nạn nghiện ma tuý và tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma tuý hoạt động, ảnh hưởng đến trật tự trị an trong xã hội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cho thấy. Sinh ra và lớn lên tại ĐB, học đến lớp 2 bỏ học ở nhà làm ruộng. Năm 1994, xây dựng gia đình với Lò Thị T, năm 2001 Lò Thị T chết, cuối năm 2001 kết hôn với Vì Thị D. Bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2018. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo có bố đẻ ông Lò Văn M được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS. HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy mục đích mua ma túy về để sử dụng và bán ma túy cho người nghiện nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo và có thời gian cai nghiện để bị cáo cải sửa lỗi lầm của mình trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4]. Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 251/BLHS. Nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn lại là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập chủ yếu dựa vào lao động sản xuất nông nghiệp ngoài ra không có thu nhập nào khác, nên không có khả năng thi hành vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xét đề nghị của đại diện VKS là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Nguồn gốc số Heroine trên theo lời khai của bị cáo đã mua của một người đàn ông dân tộc Thái không biết tên khoản 40 tuổi, không rõ địa chỉ tại cánh đồng thuộc bản N1 nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được do vậy HĐXX không xem xét trong vụ án.

Đối với Vì Văn C là người nghiện ma túy sau khi mua mua được heroine của bị cáo đã sử dụng hết. Xét hành vi của C không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Nên HĐXX không xem xét.

[5]. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.

[6]. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm b, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106/BLTTHS 2015 về xử lý vật chứng. Tịch thu tiêu huỷ 0,33 gam heroine đã trích 0,07 gam gửi giám định không hoàn lại.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 100.000đ do bị cáo phạm tội mà có.

[7]. Về án phí: Bị cáo có hộ khẩu thường trú tại xã đặc biệt khó khăn thuộc diện miễn án phí. Áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 bị cáo được miễn toàn bộ án phí HSST.

 Vì các lẽ trên:

 QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251/BLHS; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51/BLHS.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (07/5/2019).

3. Căn cứ: Điểm b, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015.

Tịch thu để tiêu huỷ: 0,33 gam heroine, đã trích 0,07 gam gửi giám định không hoàn lại, vật chứng còn lại 0,26 gam. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 100.000đ do bị cáo phạm tội mà có. (Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ vào ngày 19/6/2019).

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 bị cáo Lò Văn T được miễn toàn bộ án phí HSST.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm( ngày 12/8/2019)

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

294
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 107/2019/HSST ngày 12/08/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:107/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Điện Biên - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về