Bản án 106/2018/HSST ngày 20/03/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 106/2018/HSST NGÀY 20/03/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 20 tháng 3 năm 2018 tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2018/HSST ngày 15 tháng 02 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108 ngày 06 tháng 03 năm 2018 đối với bị cáo:

Dương Văn N, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1977

- Nơi đăng ký HKTT: Xóm H, xã N, huyện P, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Dương Văn Đ (đã chết); Con bà: Dương Thị V, sinh năm 1953; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1979; Có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2003;

Tiền án, tiền sự: Không có.

Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam công an Thái Nguyên từ ngày 09/01/2018 đến nay (Có mặt tại phiên tòa)

Người làm chứng: Ông Hoàng Xuân Kh, sinh năm 1958

Trú tại: Tổ 16, phường T, Thành phố T, tỉnh T. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Dương Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 09 giờ 45 phút ngày 09/01/2018, tổ công tác của Công an phường T, thành phố T đang làm nhiệm vụ tại khu vực chợ Vó Ngựa thuộc địa phận tổ 15 của phường thì phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu cho kiểm tra. Khi tiếp cận thì người đàn ông đó khai nhận tên là Dương Văn N, tiến hành kiểm tra thì phát hiện tại túi áo khoác bên phải mà N đang mặc có 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng (N khai nhận đó là Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với N và niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong cân xác định trọng lượng số chất bột màu trắng thu giữ của N có trọng lượng là 0,117 gam

Tại kết luận giám định số 256/KL-PC54 ngày 11/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong mẫu như gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có trọng lượng 0,117 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Dương Văn N khai nhận: Khoảng 9 giờ ngày 09/01/2018, N từ nhà bắt xe buýt lên khu vực chợ Vó Ngựa với mục đích để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi lên đến nơi, được một người nghiện ma túy không quen chỉ đường vào nhà 1 người đàn ông không quen biết, không biết rõ địa chỉ cụ thể để mua Heroine. Tại đây, N đã hỏi mua được của người đó 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi trả tiền, N được người đàn ông đó đưa cho 01 gói Heroine gói bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng. N cầm gói Heroine đó cất vào trong túi áo khoác đang mặc để về nhà sử dụng. Khi N đang đi bộ ra khu vực cổng chợ Vó Ngựa thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố T phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai nhận tội của Dương Văn N phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu N.

Tại Bản cáo trạng số 105/KSĐT - MT ngày 03/02/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố Dương Văn N “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Văn N về tội danh và điều luật như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt từ 15 đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

- Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp án phí HSST vào ngân sách nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy nên vào hồi 9 giờ 45 phút ngày 09/01/2018 Dương Văn N đã có hành vi tàng trữ 0,117 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng. Hành vi nêu trên của bị cáo N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.

[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Điều 249 BLHS quy định như sau:

“1. Người nào.....tàng trữ trái phép....chất ma túy, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c, Heroine...có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam”.

Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những hủy hoại sức khỏe mà còn làm băng hoại về đạo đức của con người, là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác. Việc bài trừ tận gốc tệ nạn ma túy trong toàn xã hội đang được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện. Loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo, xét thấy là phù hợp được chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong theo quy định ký hiệu A1.

[8]. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Hêrôin, Dương Văn N khai mua của 01 nam giới (không rõ lai lịch, địa chỉ). Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người đàn ông này nên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt:

- Dương Văn N: 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2018. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 329 BLTTHS Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu N.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 154. ngày 06/02/2018).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 106/2018/HSST ngày 20/03/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:106/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/03/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về