Bản án 01/2018/HSST ngày 23/01/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 01/2018/HSST NGÀY 23/01/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23/01/2018, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nga Yên, huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2017/TLST - HS ngày 04/12/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST-HS ngày 08/01/2018 đối với bị cáo:

Phạm Bá Đ - Sinh ngày 16 tháng 9 năm 1972 tại xã Th, huyện N, Thanh Hóa; nơi cư trú: Xóm 1, xã Th, huyện N, Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Bá P và bà Phạm Thị L; có vợ là Mai Thị V và 03 con; tiền sự: Không, tiền án: Ngày 26/7/2007, bị TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 5 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 26/7/2010, chưa được xóa án tích; Bản án số 05 ngày 26/02/2015 của TAND huyện Nga Sơn xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết tái phạm, tháng 7/2016 chấp hành xong hình phạt; bị bắt tạm giam từ ngày 04/11/2017 - Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Mai Thị V - Sinh năm: 1972 - Xóm 1, xã Th, huyện N, Thanh Hóa - Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:

1/ Anh Mai Văn L - Sinh năm: 1960 - Địa chỉ: Xóm 7, xã H, huyện N, Thanh Hóa - Vắng mặt;

2/ Anh Dương Văn S - Sinh năm: 1982 - Địa chỉ: Xóm 5, xã H, huyện N, Thanh Hóa - Vắng mặt;

3/ Chị Dương Thị Th - Sinh năm: 1969 - Địa chỉ: Xóm 7, xã H, huyện N, Thanh Hóa - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 27/10/2017, Công an xã H phát hiện có một người đàn ông đi xe mô tô bị ngã tại đoạn đường liên xã thuộc địa phận xóm 7, xã H, huyện N. Lực lượng Công an xã H đến hiện trường để giải quyết thì thấy người đàn ông này có biểu hiện phê ma túy. Trong lúc Công an xã H đang xem xét giải quyết,người đàn ông này móc túi thì có rơi trong túi áo 01 gói màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, nghi là ma túy nên Công an xã Nga H đã báo cáo Công an huyện Nga Sơn phối hợp giải quyết.

Người đàn ông này khai có tên là Phạm Bá Đ, sinh năm 1972 ở xóm 1, xã Th, huyện N, Thanh Hóa. Công an huyện Nga Sơn tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ và niêm phong gói chất bột màu trắng dạng cục vụn trong một phong bì; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Flybee E330; 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade BKS 36G1-09339.

Quá trình làm việc, Đ khai nhận: Sáng ngày 27/10/2017, Đ đến huyện  mua01 gói heroine với giá 200.000đ về để sử dụng, khi về đến xóm 7, xã H, huyện Nthì xe bị trượt ngã, Công an xã H đến giải quyết thì phát hiện gói ma túy đó trên người.

Ngày 27/10/2017, CQCSĐT Công an huyện Nga Sơn ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định chất màu trắng dạng cục vụn thu giữ của Phạm Bá Đ trong phong bì niêm phong có phải là ma túy không? Loại ma túy gì có trọng lượng bao nhiêu?

Tại Kết luận giám định số 2281/MT-PC45 ngày 29/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có trọng lượng 0,289g loại: Heroin. Hoàn lại mẫu vật sau giám định là 0,272g chất màu trắng dạng cục vụn.

Quá trình điều tra xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Flybee E330 là của Định; 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade BKS 36G1-09339 mang tên Phạm Bá Đ là tài sản chung của vợ chồng Đ.

Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 32/CTr-VKS-MT ngày 30/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Phạm Bá Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 194 của BLHS. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng Điều 33; điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành BLHS năm 2015; điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; để xử phạt Phạm BáĐ từ 06 đến 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 04/11/2017.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Flybee E330 cho Đ do không liên quan đến tội phạm; trả lại cho chị V 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade BKS 36G1-09339 mang tên Phạm Bá Đ là tài sản chung của chị và Đ; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 0,272g loại heroin (Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đã sử dụng 0,017g để giám định)

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] HĐXX nhận thấy, bị cáo Phạm Bá Đ là đối tượng nghiện ma túy, nên sáng ngày 27/10/2017 bị cáo Đ điều khiển xe mô tô Airblade BKS 36G1-09339 của gia đình đến thì trấn Đò Lèn, huyện H mua một gói Heroin có trọng lượng0,289g với giá 200.000đ cất giấu trong người để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 2281/MT-PC45 ngày 29/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có trọng lượng 0,289g loại: Heroin. Hoàn lại mẫu vật sau giám định là 0,272g chất màu trắng dạng cục vụn.

Hành vi đó của Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản thân bị cáo có 02 tiền án: Ngày 26/7/2007, bị TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày26/7/2010, chưa được xóa án tích; ngày 26/02/2015, bị TAND huyện Nga Sơn xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, với tình tiết tái phạm, tháng 7/2016 chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích; nay bị cáo lại mua0,289g ma túy loại heroin về sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất matúy” với tình tiết “tái phạm nguy hiểm”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự(TNHS): Không; tình tiết giảm nhẹ TNHS: Không.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy và các tệ nạn xã hội khác từ ma túy đang là mối hiểm họa, làm suy đồi đạo đức, lối sống, gây nguy hại cho thể chất và tinh thần của con người, làm thui chột thế hệ tương lai và còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ, trao đổi các chất ma túy, nhưng do nhu cầu ích kỷ của bản thân bị cáo mà bất chấp kỷ cương, pháp luật của Nhà nước, nên bị cáo đi vào con đường phạm tội. Do vậy, cần phải được xét xử nghiêm minh đối với bị cáo theo quy định của BLHS để răn đe, phòng ngừa chung và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[2] Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: Bản cáo trạng, Quyết định truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với bị cáo Phạm Bá Đ, trước cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không thành khẩn khai báo, quanh co chối tội, nhằm che dấu hành vi phạm tội của mình, điều đó thể hiện sự chống đối pháp luật, thách thức xã hội và các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Mai Thị V, lời trình bày và yêu cầu của chị, HĐXX thấy rằng: Phạm Bá Đ là chồng của chị, bản thân bị cáo Đ đã 02 lần bị Tòa án các cấp kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tháng 7/2010, chấp hành xong bản án thứ nhất về gia đình, nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, là đối tượng nghiện ma túy. Xe mô tô Airblade BKS 36G1-09339 mà Đ làm phương tiện đi mua ma túy về sử dụng, là tài sản chung của chị V và Đ, nhưng thực tế tiền mua xe là của chị V tiết kiệm và vay mượn để mua, nên yêu cầu của chị V được nhận lại chiếc xe đó là có căn cứ chấp nhận. Điện thoại di động nhãn hiệu Flybee E330 thu giữ của Đ, quá trình điều tra và lời khai báo của Đ không sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy để sử dụng, nên tuyên trả lại cho bị cáo.

[3] HĐXX nhận thấy: Trong hồ sơ vụ án, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều tuân thủ theo quy định của BLTTHS tại Điều 37, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên và Điều 42 nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 194; Điều 33 BLHS năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về thi hành BLHS năm 2015;điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Bá Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Bá Đ 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 04/11/2017).

- Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2,điểm b khoản 3  Điều 106 BLTTHS:

Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Flybee E330 cho Phạm Bá Đ; trả lại cho chị Mai Thị V 01 xe mô tô Airblade BKS 36G1-09339 mang tên Phạm Bá Đ.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 0,272g loại heroin.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/12/2017 giữa Công an huyệnNga Sơn và Chi cục THADS huyện Nga Sơn);

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; khoản 1Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Bá Đ phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Mai Thị Vinh có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


100
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về