Bản án 104/2019/HNGĐ-ST ngày 24/10/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 104/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/10/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 24 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số:

386/2019/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 09 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 17 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu L; nơi cư trú: Xóm M, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (có mặt)

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H; nơi cư trú: Xóm M, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 09 năm 2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Nguyễn Hữu L trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn vào ngày 25 tháng 11 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

Trước khi kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện, không ai lừa dối, ép buộc.

Vợ chồng sống hạnh phúc được 02 năm thì xẩy ra mâu thuẫn.

Nguyên nhân: Chị H sống không chung thủy, dẫn đến vợ chồng xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhau, đến đầu năm 2018 chị H đã bỏ về ngoại sống ly thân cho đến nay.

Sự việc đã được hai gia đình hòa giải nhưng không thành.

Nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng Anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về nuôi con: Anh và chị H có 01 con chung.

Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh ngày 14 tháng 06 năm 2015.

Chị H đang trực tiếp nuôi con chung từ khi ly thân đến nay, cháu ngoan ngoãn, khoẻ mạnh.

Nếu ly hôn Anh nguyện vọng giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng và Anh cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về chia tài sản và nghĩa vụ tài sản : Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của anh L tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

[1]Về tố tụng:

Bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên hòa giải lần thứ 2 mà vẫn cố tỉnh vắng mặt nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được, theo khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần 2, không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[2]Về Hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu L và chị Nguyễn Thị H được Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 69/2014 ngày 25 tháng 11 năm 2014, thủ tục, điều kiện kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị H sống không chung thủy; vợ chồng xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau.

Vợ chồng sống ly thân, cắt đứt mọi quan hệ từ đầu năm 2018 đến nay.

y ban nhân dân xã V đã xác nhận tình trạng hôn nhân và con chung của vợ chồng.

Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã kiên trì vận động thuyết phục anh L đoàn tụ gia đình nhưng anh L không chấp nhận.

Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của anh L đã thỏa mãn những căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đủ cơ sở chấp nhận cho ly hôn.

[3]Về nuôi con: Vợ chồng có một con chung.

Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh ngày 14 tháng 06 năm 2015.

Chị H đang nuôi dưỡng cháu Quỳnh A.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh L nguyện vọng giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Để ổn định cuộc sống cho cháu và bảo đảm quyền lợi các bên nên căn cứ Điều 81 luật hôn nhân và gia đình giao chị H nuôi con chung Nguyễn Thị Quỳnh A.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy anh L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng là phù hợp điều kiện thực thế, phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

[4]Về chia tài sản và nghĩa vụ tài sản: Anh L không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]Về án phí: Anh L phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 273; khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu L.

1. Về Hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Hữu L và chị Nguyễn Thị H.

2. Về nuôi con:

Giao con chung Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh ngày 14 tháng 06 năm 2015 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Hữu L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung cho chị Nguyễn Thị H mỗi tháng 1.500.000 (một triệu, năm trăm nghìn) đồng kể từ tháng 11 năm 2019 đến khi con chung thành niên.

Anh Nguyễn Hữu L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Anh L, chị H có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con trên cơ sở lợi ích của con.

3. Án phí: Anh Nguyễn Hữu L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000081 ngày 10 tháng 09 năm 2019 của Cơ quan thi hành án dân sự huyện Yên Thành. Anh Nguyễn Hữu L còn phải nộp tiếp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đồng án phí sơ thẩm.

4. Thi hành án và nghĩa vụ chậm thi hành án:

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp lực pháp luật ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất các các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trưng hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


61
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 104/2019/HNGĐ-ST ngày 24/10/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:104/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 24/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về