Bản án 104/2017/HNGĐ-ST ngày 14/07/2017 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 104/2017/HNGĐ-ST NGÀY 14/07/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 14 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2017/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2017 về việc tranh chấp“Xin  ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự

1. Nguyên đơn: Chị LÊ THỊ KIỀU L, sinh năm 1991 (Có mặt) Địa chỉ: khóm M, thị trấn T, huyện D, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Anh TRẦN QUỐC M, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Q, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 14/3/2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Kiều L trình bày:

Do quen biết nên chị và anh M kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn T, huyện D, tỉnh Đồng Tháp. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do anh chị có quá nhiều điểm bất đồng thường tranh cãi và chính thức ly thân từ đó đến nay. Nay chị L yêu cầu được ly hôn anh M.

Con chung có một cháu tên Trần Thị Thuý V, sinh ngày 19/02/2014, hiện đang sống với chị. Nay chị yêu cầu được nuôi cháu, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Quốc M đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải kèm giấy triệu tập theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự liên quan việc chị L xin ly hôn với anh, yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung đều không có nhưng anh M vẫn không có văn bản nêu ý kiến và cố tình vắng mặt không rõ lý do.

Tại phiên toà, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu như trên. Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và của các đương sự chấp hành đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự. Hiện tại thì chưa phát hiện sai sót gì để kiến nghị khắc phục.

Về nội dung: Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đề nghị cho chị L được ly hôn anh M, con chung giao cho chị L nuôi, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Trần Quốc M vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh M.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên toà, chị L trình bày do quen biết nên chị và anh M xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn T, huyện D, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới anh, chị sống hạnh phúc đếnnăm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn và chính thức ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng có quá nhiều điểm bất đồng, thường xuyên tranh cãi gây mất tình cảm. Nay chị L cương quyết xin ly hôn anh M. Anh M thì vắng mặt không lý do. Xét thấy, cho chị L được ly hôn anh M là có cơ sở. Bởi lẽ, mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho anh M để đảm bảo quyền nêu ý kiến của anh, cũng như hoà giải để anh chị hàn gắn, đoàn tụ nhưng anh M vẫn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Chứng tỏ, anh cố tình từ bỏ quyền phản đối, quyền chứng minh của mình và thể hiện anh không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân của vợ chồng, nên không có biện pháp nào để hàn gắn, đoàn tụ được. Từ đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có một cháu tên Trần Thị Thuý V, sinh ngày 19/02/2014, hiện đang sống với chị L. Xét thấy, tiếp tục giao con chung cho chị L nuôi là có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, trước giờ cháu V đã sống ổn định với chị L do đó để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý, đời sống học tập, sinh hoạt của cháu. Đồng thời, căn cứ vào văn bản ý kiến xác nhận của đại diện địa phương cho rằng chị L đang nuôi cháu V cuộc sống rất ổn định. Cho nên, tiếp tục giao con chung cho chị L nuôi là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu nên Toà án không đặt ra xem xét

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Theo chị L trình bày là không có nên Toà ánkhông đặt ra  xem xét.

[6] Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[7] Xét ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

 Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị Kiều L. Cho chị Lê Thị Kiều L được ly hôn anh Trần Quốc M.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Thị Thuý V, sinh ngày 19/02/2014 cho chị L nuôi. Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Lê Thị Kiều L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 06542 ngày 14/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè nên xem như thi hành xong.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


69
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 104/2017/HNGĐ-ST ngày 14/07/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:104/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Bè - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về