Bản án 103/2020/HS-ST ngày 17/09/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 103/2020/HS-ST NGÀY 17/09/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 121/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Huy T, sinh năm 1993 tại Tp. Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: phường A, quận B, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Huy Q, sinh năm 1967 và bà: Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1968; vợ, con: không có; nhân thân: Quyết định số 0034292/QĐ-XPHC ngày 30/5/2017 Công an quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tiền án: Bản án số 80/2018/HSST ngày 17/7/2018 Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/7/2019; tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: 08/02/2020. Có mặt.

2. Nguyễn Thanh H, sinh năm 1994 tại Tp. Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: xã C, huyện D, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1970 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; có vợ: Lê Thị Kim O, sinh năm 2000 và 01 con: sinh năm 2019; nhân thân: Quyết định số 168/QĐ-TA ngày 28/9/2016 Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng; tiền án: không; tiền sự: Quyết định số 125/QĐ-TA ngày 23/4/2020 Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng; tạm giữ, tạm giam: 06/5/2020. Có mặt.

- Bị hại: Anh Trang Thiện T, sinh năm 1990, nơi cư trú: Phường E, quận F, Tp. Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phan Văn T1, sinh năm 1996, nơi cư trú: phường A, quận B, Tp. Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 04/02/2020, Nguyễn Thanh H và Nguyễn Huy T được đối tượng B (không rõ lai lịch) chở trên xe gắn máy (không rõ biển số). Khi đi ngang qua nhà số 246 đường X, Phường E, quận F, B phát hiện trước nhà có dựng 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 75K8-4594 của anh Trang Thiện T có cắm sẵn chìa khóa trên xe. B rủ H và Tuấn lấy trộm xe gắn máy này. B nói T đi đến lấy xe nhưng T không đồng ý, nói B trực tiếp lấy. Sau đó, T và H đứng cảnh giới, còn B là người trực đi đến lấy xe gắn máy của anh T rồi cả ba chạy thoát về quán cà phê ở quận B. Tại đây, T gọi điện thoại cho Phan Văn T1 hỏi bán xe, T1 đồng ý. Khi T, H và B mang xe đến thì T1 có hỏi giấy tờ xe. B nói xe không có giấy tờ, T1 đồng ý mua với giá 3.000.000 đồng. B cho T 1.500.000 đồng, cho H 150.000 đồng. T cho lại H thêm 500.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Huy T và Nguyễn Thanh H đã thừa nhận hành vi phạm tội như nêu trên và khai nhận: Khi B rủ lấy trộm xe gắn máy, T đồng ý còn H không đồng ý nhưng H vẫn cùng T đứng cảnh giới cho B lấy được xe và cùng đem xe gắn máy đi bán cho T1. B là người trực tiếp giao dịch bán xe với T1 nên T và H không biết T1 có biết nguồn gốc xe là do trộm cắp hay không. T chỉ giao xe cho T1 và nhận 3.000.000 đồng từ T1. T và H không biết nhân thân, lai lịch của Bi Cao.

Anh Phan Văn T1 trình bày không biết xe gắn máy mua của T là do phạm tội mà có nên anh T1 đã tự nguyện giao nộp lại xe và không yêu cầu bồi thường gì. Nguyễn Huy T không xác định là T1 có hiểu khi T nói “xe mới lấy” nghĩa là xe do trộm cắp mà có hay không. Quá trình điều tra, T1 đã bỏ đi khỏi địa phương, không liên lạc được. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm, khi làm việc được nếu có cơ sở sẽ xử lý sau.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 75K8-4594 là tài sản bị chiếm đoạt, trị giá 8.000.000 đồng, đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp anh Trang Thiện T. Anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

- 01 xe gắn máy không có biển số, không xác định được nguồn gốc xe; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng, 01 dao bấm, 01 bộ đoản và 01 vòng kim loại màu vàng bị gãy đôi thu giữ của Nguyễn Huy T.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7plus màu đen và số tiền 650.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thanh H.

Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 29 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Huy T, Nguyễn Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Huy từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, bị cáo T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Nguyễn Huy T và Nguyễn Thanh H, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Huy T và Nguyễn Thanh H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe máy hiệu Yamaha Sirius trị giá 8.000.000 đồng của anh Trang Thiện T, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam nên các bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Bị cáo T đã bị kết án, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù thật nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, bị cáo Huy phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo Huy theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

[4] Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại anh Trang Thiện T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Phan Văn T1 khai nhận không biết xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius do các bị cáo bán cho anh là do phạm tội mà có nên đã đồng ý mua với giá 3.000.000 đồng, anh đã tự nguyện giao nộp lại xe gắn máy trên cho cơ quan công an và không yêu cầu các bị cáo bồi thường lại số tiền 3.000.000 đồng trên. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 3.000.000 đồng trên của anh Trung.

[5] Về vật chứng vụ án:

- 01 xe gắn máy không có biển số, không xác định được nguồn gốc xe thu giữ của Nguyễn Huy T. Tuấn khai xe gắn máy mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) ở tiệm game bắn cá với giá 3.000.000 đồng để đi lại, xe không có giấy tờ. Hội đồng xét xử xét thấy xe gắn máy trên không có nguồn gốc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng, 01 dao bấm, 01 bộ đoản và 01 vòng kim loại màu vàng bị gãy đôi thu giữ của Nguyễn Huy T. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo dùng điện thoại di động vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; đối với 01 dao bấm, 01 bộ đoản và 01 vòng kim loại màu vàng bị gãy đôi là những vật không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7plus màu đen và số tiền 650.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thanh H. Hội đồng xét xử xét thấy điện thoại di động là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo; đối với số tiền 650.000 đồng là do bị cáo được hưởng lợi từ việc bán xe Sirius đã lấy trộm nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Huy T:

Căn cứ khoản 1 Điều 173 và điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh H:

 Căn cứ Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự:

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy T, Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2020.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thanh H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2020.

[2] Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius không rõ biển số, số khung và số máy bị đục; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng, số imei: 357572/06/477166/7 và số tiền 650.000 (sáu trăm năm mươi ngàn) đồng.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 dao bấm dài khoảng 10cm, 01 cây đoản bẻ khóa xe máy, 01 thanh kim loại màu vàng dài khoảng 40cm và 01 vòng kim loại màu vàng bị gãy đôi.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh H 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7plus màu đen 32GB, số imei : 355346085662870.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 87/PNK ngày 27/5/2020 của Công an quận Tân Bình).

[3] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

 [4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 103/2020/HS-ST ngày 17/09/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:103/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về