Bản án 103/2020/HS-ST ngày 01/06/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 103/2020/HS-ST NGÀY 01/06/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 01 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1983 tại tỉnh G; hộ khẩu thường trú: Số 886, đường Q, tổ 3, phường A, thị xã K, tỉnh G; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn L (đã chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1946; bị cáo có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1966, nhỏ nhất là bị cáo.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát từ ngày 01/3/2020. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu phố 2, phường T, thị xã B, tỉnh B, có mặt.

- người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh R, vắng mặt.

2. Bà Diệp Mai Y, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp 4, xã K, huyện T, tỉnh C, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T ở tại nhà của bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1968, hộ khẩu thường trú: Khối phố 6, phường P, thành phố T, tỉnh D) là chị cùng mẹ khác cha với T tại Khu phố 3, phường T, thị xã B, tỉnh B.

Khoảng 19 giờ, ngày 29/02/2020, T tổ chức uống rượu cùng với bạn tại nhà. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T nghỉ và lấy xe đạp màu bạc của bà Trần Thị L (sinh năm 1946, hộ khẩu thường trú: Số 886, đường Q, tổ 3, phường A, thị xã A, tỉnh G) là mẹ của Thành, chạy lòng vòng chơi. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 13, phía trước phòng tập thể hình Thủy Tiên thuộc khu phố 2, phường Tân Định, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, T nhìn thấy ông Nguyễn Ngọc H say rượu, đang nằm ngủ trên vỉa hè, bên cạnh có dựng 01 xe môtô nhãn hiệu Wave RSX biển số 72H1-079.36. Lúc này, T nảy sinh ý định lấy trộm xe môtô 72H1-079.36 để sử dụng làm phường tiện đi lại nên dựng xe đạp cạnh chỗ ông H đang nằm rồi lén lút đẩy xe mô tô 72H1- 079.36 về nhà. Về đến nơi, T dùng tay bẻ gãy phần biển số của xe mô tô rồi mang lên gác cất giấu. Sau đó, T đi bộ quay trở lại chỗ ông H đang nằm, phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime trong túi quần của ông H nên T đã lén lút rút lấy điện thoại giấu vào trong túi quần của mình rồi đạp xe đạp đi về. Đến nơi, T vào phòng mở điện thoại để sử dụng nhưng mở không được do điện thoại khóa mật khẩu.

Đến khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 01/3/2020, Công an phường T tiến hành kiểm tra hành chính chỗ ở của T phát hiện xe môtô hiệu Wave RSX không biển số, 01 biển số xe 72H-079.36 trên gác và 01 điện thoại di động Samsung J7 Prime trên người của T. T không cung cấp được nguồn gốc tài sản nên lực lượng công an mời về trụ sở làm việc. Tại đây, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ gồm:

+ 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, số khung: RLHJA3200EY001187, số máy: JA32E-1002460.

+ 01 Biển số 72H1-079.36.

+ 01 Điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime.

Theo Kết luận về việc định giá tài sản ngày 03/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự của thị xã Bến Cát xác định:

+ 01 Xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 72H1-079.36 có trị giá 5.000.000 đồng.

+ 01 Điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime có trị giá 1.200.000 đồng. Ông Nguyễn Ngọc H khai xe mô tô hiệu Honda Wave RXS, có số khung: RLHJA3200EY001187, số máy: JA32E-1002460 gắn biển số 72H1-079.36 mua lại của một người tên Nguyễn Thành N (không rõ nhân thân) tại tỉnh Đ có giấy đăng ký xe, không làm giấy tờ mua bán. Quá trình sử dụng, ông H đã làm mất giấy xe.

Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave RSX có số khung: RLHJA3200EY001187, số máy: JA32E-1002460 có biển số 69N1-205.72 do bà Diệp Mai Y đứng tên đăng ký. Vào tháng 3/2015, bà Y đi làm và ở trọ tại phường L, thành phố T, tỉnh B thì bị mất trộm xe nhưng bà Y không đi trình báo việc mất trộm.

Đối với biển số xe 72H1-079.36 là của xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, số khung: RLCS5C640CY981936, số máy: 5C64-981951 do chị Nguyễn Thị Thúy L đứng tên đăng ký. Vào tháng 4/2016, chị L bị mất trộm xe, chưa tìm được.

Ngày 28/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả cho ông Nguyễn Ngọc H: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime. Ông H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 115/CT-VKSBC ngày 19/5/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội:

“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: giao trả cho bà Diệp Mai Y 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX có số khung: RLHJA3200EY001187, số máy: JA32E-1002460; giao trả cho chị Nguyễn Thị Thúy N 01 biển số xe 72H1-079.36.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại ông Nguyễn Ngọc H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thúy N vắng mặt tại phiên tòa, theo lời khai có trong hồ sơ vụ án: Ông H đã nhận lại điện thoại di động bị chiếm đoạt. Ông H và chị N không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Diệp Mai Y yêu cầu được nhận lại xe mô tô bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử NHẬN THẤY

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 29/02/2020 tại đoạn đường Quốc lộ 13 trước cửa phòng tập thể hình T thuộc khu phố 2, phường T, thị xã B, bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút lấy trộm:

01 Xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 72H1-079.36 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime của ông Nguyễn Ngọc H mang về nhà nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Xét bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng vì động cơ tư lợi, bản chất tham lam, lười lao động, muốn có tiền để tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả, thể hiện ý thức liều lĩnh và xem thường pháp luật.

Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, biển số 72H1-079.36 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime của bị hại ông Nguyễn Ngọc H với tổng trị giá là 6.200.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, bản Cáo trạng số 115/CT- VKSBC ngày 19/5/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được thu hồi giao trả cho chủ sở hữu; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Ngọc H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Prime màu vàng là tài sản của bị hại Nguyễn Ngọc H. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có quyết định xử lý vật chứng và giao trả điện thoại trên cho ông H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xe mô tô hiệu Honda Wave RSX có số khung: RLHJA3200EY001187, số máy: JA32E-1002460 có biển số 69N1-205.72 do bà Diệp Mai Y đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Bà Y bị mất trộm xe vào tháng 3/2015. Bị hại Nguyễn Ngọc H mua lại xe mô tô này nhưng không chứng minh được nguồn gốc mua bán hợp pháp. Do đó bà Y yêu cầu được nhận lại xe mô tô này là có căn cứ. Đối với biển số xe 72H1-079.36 là của xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, số khung: RLCS5C640CY981936, số máy: 5C64-981951 do chị Nguyễn Thị Thúy N đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Vào tháng 4/2016, chị N bị mất trộm xe, chưa tìm được. Do đó cần căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự giao trả xe mô tô cho bà Y và giao trả biển số xe cho chị N.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

 Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/3/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

3. Về xử lý vật chứng:

Tuyên giao trả cho bà Diệp Mai Y 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave RSX có số khung: RLHJA3200EY001187, số máy: JA32E-1002460.

Tuyên giao trả cho bà Nguyễn Thị Thúy N 01 (một) biển số xe 72H1- 079.36.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 103/2020/HS-ST ngày 01/06/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:103/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Bến Cát - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về