Bản án 103/2019/DS-ST ngày 22/07/2019 về tranh chấp hợp đồng vay

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 103/2019/DS-ST NGÀY 22/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY

Ngày 22 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 88/2019/TLST-DS, ngày 20 tháng 3 năm 2019 về việc tranh chấp hợp đồng vay, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 398/2019/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng T

Địa chỉ: đường P, phường V, Tp. R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn A – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mạch Quốc P – Giám đốc chi nhánh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phong: Ông Huỳnh Bé L - Chức vụ:

Phó phòng khách hàng Cá Nhân chi nhánh Cà Mau. (có mặt)

- Bị đơn: 1/ Ông Cao Thanh M, sinh năm 1976.

2/ Bà Nguyễn Thúy H, sinh năm 1983.

Cùng địa chỉ cư trú: đường N, khóm M, phường T, Tp.C (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn trình bày và được bổ sung tại phiên tòa thể hiện như sau:

Đi diện cho nguyên đơn (Ngân hàng T) ông Huỳnh Bé L trình bày: Vào ngày 14/3/2018, Ngân hàng T – Chi nhánh Cà Mau và anh Cao Thanh M, chị Nguyễn Thúy H có ký hợp đồng tín dụng số 1254/HĐTD-CC vay số tiền là 30.000.000đ, lãi suất 14,94%/năm, thời hạn vay 06 tháng, mục đích vay mua bán nhỏ, hình thức thanh toán là trả góp hàng tháng theo đình kỳ từ ngày 15/3/2018 đến 10/9/2018.

Sau khi thực hiện hợp đồng vay anh M, chị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thu hồi nợ. Tính đến ngày khởi kiện 20/3/2019 anh M, chị H còn nợ và phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 17.974.006đ (trong đó: nợ gốc 15.000.000đ, lãi trong hạn 1.105.151đ, lãi quá hạn 1.868855đ) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/3/2019 cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Đến ngày 15/7/2019 chị H có đến nộp thanh toán số tiền nợ gốc là 8.000.000đ nên thay đổi yêu cầu tính đến ngày xét xử 22/7/2019 anh M, chị H còn nợ và phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 11.185.526đ (trong đó: nợ gốc 7.000.000đ, lãi trong hạn 1.105.151đ, lãi quá hạn 3.080.375đ) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23/7/2019 cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Ngân hàng xác định anh M, chị H với Ngân hàng không có ký hợp đồng thế chấp tài sản, không có bên thứ ba bảo lãnh.

Bị đơn là anh Cao Thanh M, chị Nguyễn Thúy H: Từ khi thụ lý vụ án cho đến ngày mở phiên tòa xét xử Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh M, chị H. Nhưng anh M, chị H vẫn vắng mặt không rõ lý do và không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án. Do đó, căn cứ vào hợp đồng tín dụng và kế ước nhận nợ mà anh M, chị H đã ký kết với Ngân hàng và lời trình bày của Ngân hàng để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa các đương sự không nộp thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng T thuộc lĩnh vực tranh chấp về hợp đồng tín dụng; anh M, chị H là bị đơn, có nơi cư trú tại khóm M, phường T, Tp. C, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Cao Thanh M, chị Nguyễn Thúy H nhưng anh M, chị H vắng mặt không rõ nên Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung của vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng (vay tài sản). Theo hợp đồng tín dụng số 1254/HĐTD-CC ngày 14/3/2018 giữa Ngân hàng T – Chi nhánh Cà Mau và anh Cao Thanh M, chị Nguyễn Thúy H có ký vay số tiền là 30.000.000đ, lãi suất 14,94%/năm, thời hạn vay 06 tháng, mục đích vay mua bán nhỏ, hình thức thanh toán là trả góp hàng tháng theo đình kỳ từ ngày 15/3/2018 đến 10/9/2018. Ngân hàng xác định sau khi thực hiện hợp đồng vay anh M, chị H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thu hồi nợ. Tính đến ngày xét xử 22/7/2019 anh M, chị H còn nợ và phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền 11.185.526đ (trong đó: nợ gốc 7.000.000đ, lãi trong hạn 1.105.151đ, lãi quá hạn 3.080.375đ) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23/7/2019 cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng. Xét thấy yêu cầu của Ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[4] Đối với anh M, chị H vắng mặt không rõ lý do và không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, không có tài liệu chứng cứ để chứng minh anh M, chị H đã thanh toán nợ cho Ngân hàng như thế nào nên căn cứ vào Hợp đồng và khế ước nhận nợ do Ngân hàng cung cấp để xem xét theo yêu cầu của ngân hàng.

[5] Tại phiên tòa Ngân hàng xác định giữa Ngân hàng và anh M, chị H không xác lập hợp đồng thế chấp tài sản, không có bên thứ ba bảo lãnh khoản nợ vay và không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh M, chị H nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 144, khoản 1 điều 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T đối với anh Cao Thanh M, chị Nguyễn Thúy H theo hợp đồng tín dụng số 1254/HĐTD-CC ngày 14/3/2018 giữa Ngân hàng T – Chi nhánh Cà Mau và anh Cao Thanh M, chị Nguyễn Thúy H.

- Buộc anh M, chị H thanh toán số nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng đến thời điểm ngày xét xử 22/7/2019 với số tiền 11.185.526đ (trong đó: nợ gốc 7.000.000đ, lãi trong hạn 1.105.151đ, lãi quá hạn 3.080.375đ) và tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23/7/2019 cho đến khi dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm anh M, chị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hành vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh M, chị H phải nộp số tiền là 559.000đ (chưa nộp).

- Ngân hàng T không phải nộp án phí. Vào ngày 20 tháng 3 năm 2019, đã dự nộp 449.000đ theo biên lai số 0002229 được hoàn lại khi bản án có hiệu lực.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điêù 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

332
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 103/2019/DS-ST ngày 22/07/2019 về tranh chấp hợp đồng vay

Số hiệu:103/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về