Bản án 10/2020/HSST ngày 24/04/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 10/2020/HSST NGÀY 24/04/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 24 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2020 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020, đối với bị cáo:

Ngô Thị T, sinh ngày 29/8/1980, tại huyện KX, tỉnh TB; nơi cư trú: Tổ A, phường NS, thành phố TĐ, tỉnh NB; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Đại lý sổ xố; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Ngô Văn T và bà Phạm Thị Kh; có chồng và 02 con; tiền án: Không; tin sự: Bị xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng, về hành vi Đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 17/QĐ-XPHC ngày 24/12/2018 của Công an phường Tây Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, chấp hành xong ngày 26/12/2018; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Trần Xuân N, sinh năm 2000; nơi cư trú: Tổ B, phường NS, thành phố TĐ, tỉnh NB (vắng mặt)

- Người làm chứng:

+ Anh Vũ Đức Q (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Thị T có 01 tiền sự: Ngày 24/12/2018 bị Công an phường TS, thành phố TĐ, tỉnh NB, xử phạt vi phạm hành chính, về hành vi: Đánh bạc, tính đến ngày 17/12/2019 chưa đủ điều kiện được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Lợi dụng việc làm đại lý bán xổ số và lô tô cho công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết NB, chi nhánh tại thành phố TĐ, T đã nhận ghi số lô và số đề cho khách đi đường với tỷ lệ thắng, thua như sau: đề ghi 1.000 đồng, nếu trúng được 70.000 đồng; lô ghi 01 điểm là 23.000 đồng, nếu trúng được 80.000 đồng.

Khong 17 giờ 10 phút, ngày 17/12/2019 tại khu vực vỉa hè đường QS, thuộc tổ C, phường TS, thành phố TĐ, anh Trần Xuân N đến hỏi mua số đề 58, 85 mỗi số 60.000 đồng và số lô 25 và 40 mỗi số 20 điểm, với tổng số tiền là 1.040.000 đồng. T đồng ý và lấy tờ giấy có dòng kẻ ngang kích thước (17 x 24)cm ghi số lô, số đề đã bán cho anh N để theo dõi, ghi xong T lấy mảnh giấy kích thước (4 x 6,5)cm (cáp đề) ghi số đề 58, 85; số lô 25, 40 đưa cho anh N. Anh N cầm tờ cáp đề và lấy số tiền 1.040.000 đồng đưa cho T thì bị Công an phường TS, thành phố TĐ phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính. Tại chỗ Công an thu giữ của anh N 01 mảnh giấy có kích thước (4 x 6,5)cm trên có ghi các số lô, số đề T bán cho anh N; thu của T 01 tờ giấy có dòng kẻ ngang kích thước (17 x 24)cm trên ghi các số lô, số đề T bán cho anh N; 01 bút bi vỏ mầu xanh, mực mầu đen; 01 bàn kim loại mầu xanh, 01 ghế nhựa mầu trắng sữa và số tiền 1.792.000 đồng, trong đó có 1.040.000 đồng là tiền T bán số lô, số đề cho anh N; số tiền 752.000 đồng còn lại T khai nhận là tiền bán số đề cho khách đi đường không biết tên, địa chỉ.

Ngày 11/02/2020, Công an thành phố Tam Điệp đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Trần Xuân N.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 25 tháng 02 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố Ngô Thị T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Ngô Thị T và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Ngô Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Ngô Thị T từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt tiền bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng. Khấu trừ từ 5% đến 10% thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt.

- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi vỏ mầu xanh, mực mầu đen, tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.792.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.

Tại phiên tòa bị cáo Ngô Thị T đã khai nhận vào buổi chiều ngày 17/12/2019 tại vỉa hè ở tổ C, phường TS, thành phố TĐ, bị cáo Ngô Thị T đã bán cho anh Trần Xuân N các số lô, số đề với tổng số tiền là 1.040.000 đồng, diễn biến sự việc đúng như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo cho rằng bị xét xử là đúng người, đúng tội, đồng ý với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Nói lời sau cùng bị cáo đề nghị được mức hình phạt thấp nhất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Xuân N quá trình điều tra khai nhận ngày 17/12/2019 tại vỉa hè đường QS, thuộc tổ C, phường TS, thành phố TĐ, anh N đã mua của bị cáo Ngô Thị T các số lô, số đề với tổng số tiền 1.040.000 đồng thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số tiền mua số lô, số đề và cáp đề, diễn biến sự việc đúng như bản cáo trạng đã nêu. Anh N đã bị xử phạt hành chính và không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hay khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 10 phút, ngày 17/12/2019 tại vỉa hè đường QS, thuộc tổ C, phường TS, thành phố TĐ, bị cáo Ngô Thị T đã có hành vi bán số lô, số đề với mục đích thắng thua bằng tiền, là hành vi đánh bạc trái phép, số tiền dùng vào đánh bạc là 1.040.000 đồng.

[3] Bị cáo Ngô Thị T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi bán số lô, số đề của mình là trái phép nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Ngô Thị T đã bị xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ - XPHC ngày 24/12/2018 của Công an phường TS, thành phố TĐ, tỉnh NB đến ngày thực hiện hành vi đánh bạc lần này chưa đủ thời gian được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Khon 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”, Đối chiếu với quy định nêu trên, hành vi của bị cáo Ngô Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo Ngô Thị T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo Ngô Thị T trước khi thực hiện hành vi phạm tội lần này đã có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc là tình tiết định tội, ngoài ra bị cáo không có lần nào khác vi phạm pháp luật.

[6] Về hình phạt: Bị cáo Ngô Thị T là phụ nữ, sinh sống bằng nghề đại lý xổ số, vì muốn tăng thêm thu nhập nên đã lợi dụng việc bán xổ số để bán số lô, số đề, phạm tội khi có một tiền sự về hành vi đánh bạc nhưng tiền sự này là tình tiết định tội đối với bị cáo, số tiền sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, bị cáo phạm tội lần đầu và phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử thấy chỉ cần áp dụng loại hình phạt cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập và phạt tiền bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tại phiên tòa là tương xứng với hành vi phạm tội, đảm bảo tác dụng phòng ngừa tội phạm.

[7] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 mảnh giấy nhỏ có trên ghi các số lô, số đề T bán cho N; thu của T 01 tờ giấy có dòng kẻ ngang trên ghi các số lô, số đề bán cho khách đã được chuyển lưu hồ sơ vụ án.

- Đối với số tiền 1.040.000 đồng bị cáo bán số lô, đề cho anh Trần Xuân N và số tiền 752.000 đồng bị cáo khai nhận có được do bán số lô, số đề cho người khách qua đường chưa xác định được danh tính, là tiền do phạm tội mà có nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 bút bi vỏ mầu xanh, mực mầu đen bị cáo sử dụng ghi các số lô, số đề là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với 01 bàn kim loại mầu xanh, 01 ghế nhựa mầu trắng sữa qua điều tra xác định không phải là công cụ, phương tiện phạm tội; tài sản này T đang quản lý hợp pháp, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho bị cáo Ngô Thị T là đúng pháp luật.

[8] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[9] Trong vụ án này anh Trần Xuân N có hành vi mua số lô, số đề của bị cáo với số tiền 1.040.000 đồng, nhưng do anh N không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc, số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên hành vi không cấu thành tội phạm, Công an thành phố Tam Điệp đã xử phạt hành chính đối với anh Trần Xuân N là đúng pháp luật.

[10] Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố bị cáo: Ngô Thị T phạm tội “Đánh bạc”

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Ngô Thị T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án Giao bị cáo Ngô Thị T cho Ủy ban nhân dân phường NS, thành phố TĐ, tỉnh NB giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Khấu trừ 5% thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt đối với bị cáo Ngô Thị T. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.

Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Phạt tiền bổ sung bị cáo Ngô Thị T 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

3. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi mầu xanh. (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp) - Tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 1.792.000 đồng (một triệu, bảy trăm chín mươi hai nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo Ngô Thị T.

(Khoản tiền hiện đang quản lý tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp tại Kho bạc Nhà nước thành phố Tam Điệp theo Ủy nhiệm chi lập ngày 25/02/2020 giữa Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp)

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Ngô Thị T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


79
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2020/HSST ngày 24/04/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:10/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tam Điệp - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/04/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về