Bản án 10/2020/HNGĐ-ST ngày 28/05/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 10/2020/HNGĐ-ST NGÀY 28/05/2020 VỀ LY HÔN

Trong ngày 28 tháng 05 năm 2020. Tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 05 năm 2020 về vụ kiện: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 05 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Huỳnh G, sinh năm 1995 (có mặt).

Địa chỉ: ấp P H, xã T H, huyện T H, tỉnh Kiên Giang

- Bị Đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1992 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp P H, xã T H, huyện T H, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị Võ Thị Huỳnh G trình bày: tôi và anh Nguyễn Văn L chung sống với nhau vào năm 2014, có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Trước khi chung sống, tôi và anh L có quen biết và có tìm hiểu nhau trước mới đi đến hôn nhân, hôn nhân tự nguyện không cưỡng ép.

Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L thường xuyên đi tìm thú vui bên ngoài, anh L thường xuyên đi uống rượu, về đến nhà thì ghen tuông vô cớ nên vợ chồng có lời qua tiếng lại, thậm chí anh L còn đánh đập tôi, anh L không có trách nhiệm với vợ con và không phụ giúp gia đình. Tôi có khuyên anh L nhiều lần nhưng anh L không nghe vẫn chứng nào tật ấy, hiện nay tôi và anh L đã sống ly thân với nhau từ tháng 05 năm 2019 cho đến nay. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng đã đổ vỡ, cuộc sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung gồm:

1. Nguyễn Khánh V, sinh ngày 05/06/2014

2. Nguyễn Minh C, sinh ngày 26/04/2018

Các cháu hiện đang chung sống với chồng tôi.

- Về tài sản chung: không có.

- Về phần nợ chung: vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng.

Tại phiên tòa chị G yêu cầu:

Về quan hệ hôn nhân: tơi xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Về quan hệ con chung: tôi xin giao 02 con cho anh L nuôi dưỡng, tôi không cấp dưỡng nuôi 02 con.

Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết

* Bị đơn anh Nguyễn Văn L trình bày: Theo bản tự khai và biên bản phiên đối chất ngày 20/5/2020 của anh L trình bày: anh L và chị Võ Thị Huỳnh G chung sống với nhau vào năm 2014, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Trước khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước mới tiến đến hôn nhân, hôn nhân tự nguyện không cưỡng ép.

Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, vợ chồng hay cự cãi.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung gồm:

1. Nguyễn Khánh V, sinh ngày 05/06/2014

2. Nguyễn Minh C, sinh ngày 26/04/2018

Các cháu hiện đang chung sống với tôi.

- Về tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: Không có.

Tại Tòa án anh L yêu cầu:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi đồng ý ly hôn với cô Võ Thị Huỳnh G.

Về quan hệ con chung: Tôi xin nhận nuôi 02 con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi 02 con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn L với tư cách là bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay anh L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy anh L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và anh L đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh L là phù hợp theo quy định pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị Võ Thị Huỳnh G và anh Nguyễn Văn L là vi phạm vào Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi vì chị G và anh L chung sống với nhau mà không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Theo khoản 1, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý. Ngoài ra cc bn nếu có yêu cầu giải quyết về con cái và tài sản thì Tòa án áp dụng Điều 15, Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết. Chính vì vậy xác định mối quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh L không được pháp luật công nhận là vợ chồng, vì chị G, anh L chung sống với nhau mà không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh L là vợ chồng là có cơ sở.

[3] Về quan hệ con chung: Chị G xin được giao 02 con là cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 05/06/2014 và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 26/04/2018 cho anh L nuôi dưỡng, chị G không cấp dưỡng nuôi 02 con. Xét thấy giao cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 05/06/2014 và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 26/04/2018 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng 02 con là có cơ sở chấp nhận vì theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Tại phiên đối chất thì anh L cũng đồng ý nhận chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng 02 con. Vì vậy được Hội đồng xét xử ghi nhận. Không ai có quyền cản trở việc tới lui thăm nom con chung.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: do chị G và anh L không có tài sản chung và không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: chị Võ Thị Huỳnh G phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0000479 ngày 13/03/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T H, tỉnh Kiên Giang.Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Võ Thị Huỳnh G và anh Nguyễn Văn L là vợ chồng.

2. Về quan hệ con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị Võ Thị Huỳnh G và anh Nguyễn Văn L. Giao cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 05/06/2014 và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 26/04/2018 cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Chị G không phải cấp dưỡng nuôi con. Không ai có quyền cản trở việc tới lui thăm nom con chung.

3. Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Võ Thị Huỳnh G nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000479 ngày 13/03/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T H, tỉnh Kiên Giang. Chị G đã nộp đủ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự ,người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Báo cho chị Võ Thị Huỳnh G biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Báo cho anh Nguyễn Văn L biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2020/HNGĐ-ST ngày 28/05/2020 về ly hôn

Số hiệu:10/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Hiệp - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về