Bản án 10/2020/DS-ST ngày 13/05/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 10/2020/DS-ST NGÀY 13/05/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 13 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 73/2020/TLST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2020, về việc: “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2020/QĐXXST-DS, ngày 28 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm: 1976. Cư trú tại: 348/2C Dương Thị Hoa, khu phố 2, thị trấn T, huyện C, tỉnh L.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1972. Cư trú tại: 18/23B khu phố 2, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An.

(Hai đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

 - Theo đơn khởi kiện ngày 12/3/2020 và những lời khai trình tại tòa, bà Nguyễn Thị Nh là nguyên đơn trình bày: Vào ngày 25/01/2020 (dương lịch) bà Nguyễn Thị L có vay của bà số tiền 80.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, hai bên thỏa thuận miệng lãi suất 2%/1 tháng, mục đích vay để trồng thanh long. Đến hạn trả nợ nhưng bà L không trả vốn và lãi cho bà, mặc dù bà cũng đã nhiều lần đòi nợ những bà L cũng không trả. Nay bà yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị L phải thanh toán cho bà 80.000.000 đồng tiền vốn vay, trả một lần, không yêu cầu tính lãi.

- Bà Nguyễn Thị L là bị đơn trình bày: Năm 2018 bà có vay của bà Nguyễn Thị Nh số tiền 80.000.000 đồng, lãi suất 9%/tháng, bà đã trả lãi được tổng cộng 129.600.000 đồng, việc trả lãi chỉ giao nhận trực tiếp nên bà không có chứng cứ chứng minh, sau đó bà không có khả năng thanh toán nợ vốn và lãi nên vào ngày 25/01/2020 bà Nh yêu cầu bà ký giấy nhận nợ lại số tiền 80.000.000 đồng. Nay bà đồng ý trả số nợ vốn trên nhưng do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn bà xin được trả dần hàng tháng, mỗi tháng 2.500.000 đồng cho đến khi xong nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Qua lời khai trình của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Nguyễn Thị Nh và bà Nguyễn Thị L có phát sinh tranh chấp hợp đồng vay tài sản, có lãi; việc tranh chấp và thẩm quyền giải quyết được quy định tại các Điều 26, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý, giải quyết theo quy định.

[2]. Xét thấy bà Nguyễn Thị L thừa nhận có vay nợ gốc của bà Nguyễn Thị Nh số tiền 80.000.000 đồng, nhưng đương sự không thống nhất về lãi suất cho vay, số tiền lãi đã trả. Bà L khai trình năm 2018 vay của bà Nh 80.000.000 đồng, lãi suất 9%/tháng, đã trả lãi được tổng cộng 129.600.000 đồng, nhưng bà không xuất trình được chứng cứ về việc đã trả lãi số tiền trên nên không có cơ sở xem xét chấp nhận. Bà L đồng ý trả số nợ vốn vay là 80.000.000 đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng 2.500.000 đồng cho đến khi xong nợ. Yêu cầu của bà L không được nguyên đơn đồng ý và cũng không phù hợp với quy định của pháp luật, nên không được chấp nhận. Bà Nh yêu cầu bà L phải thanh toán số nợ vốn vay là 80.000.000 đồng không yêu cầu tính lãi, yêu cầu này phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466 và 470 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận. Do đó cần buộc bà L phải thanh toán số nợ gốc vay cho bà Nh số tiền 80.000.000 đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.

[3]. Về án phí: Do yêu cầu của bà Nguyễn Thị Nh được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án (80.000.000 đồng x 5% = 4.000.000 đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 - Áp dụng các Điều 26, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 357, 463, 466, 468 và 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tu yên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Nguyễn Thị Nh đối với bà Nguyễn Thị L.

Buộc bà Nguyễn Thị L phải có trách nhiệm hoàn trả nợ gốc vay cho bà Nguyễn Thị Nh số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 4.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Bà Nguyễn Thị Nh không phải chịu án phí, hoàn trả số tiền tạm ứng án phí bà Nh đã nộp là 2.000.000 đồng, theo biên lai thu số 0000360 ngày 17 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2020/DS-ST ngày 13/05/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:10/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về