Bản án 10/2019/HS-ST ngày 12/05/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT – TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 10/2019/HS-ST NGÀY 12/05/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong ngày 12 tháng 5 năm 2019 tại: Trụ sở TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2019/HSST-QĐ ngày 26 tháng 4 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Lại Thế T, sinh năm 1982 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: tổ dân phố 04, TT E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Thủ kho; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Thế H, sinh năm 1957 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959; bị cáo có vợ là Bùi Thị Thu V, sinh năm 1986 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 30/12/2018, đến ngày 08/01/2019 được chuyển sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt.

2. Đặng Văn H, sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn A1, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Thái P1, sinh năm 1964 và con bà Mai Thị Hoa L, sinh năm 1965; Bị cáo có vợ là Võ Thị Kim T, sinh năm 1992 và có 01 con, sinh năm 2015; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 30/12/2018, đến ngày 08/01/2019 chuyển tạm giam; đến ngày 23/01/2019 được bảo lĩnh, hủy bỏ biện pháp tạm giam, bị cáo có mặt.

3. Hoàng Tiến L, sinh năm 1977 tại tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố 02, thị trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn 8/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn C, sinh năm 1950 và con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1952; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1979 và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 30/12/2018, đến ngày 08/01/2019 chuyển tạm giam; đến ngày 23/01/2019 được bảo lĩnh, hủy bỏ biện pháp tạm giam, bị cáo có mặt.

4. Đỗ Đại V, sinh năm 1983 tại tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: Thôn T1, xã S, huyện S1, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Minh C, sinh năm 1955 và con bà Võ Thị T (đã chết); Bị cáo có vợ là Võ Thị Mỹ H, sinh năm 1984 và có 04 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 30/12/2018, đến ngày 08/01/2019 chuyển tạm giam; đến ngày 23/01/2019 được bảo lĩnh, hủy bỏ biện pháp tạm giam, bị cáo có mặt.

5. Bùi Minh Đ, sinh năm 1971 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tổ dân phố 05, phường N, TP. Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Minh Đ (đã chết) và con bà Phạm Thị Hồng L, sinh năm 1945; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 và có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 30/12/2018, đến ngày 08/01/2019 chuyển tạm giam; đến ngày 23/01/2019 được bảo lĩnh, hủy bỏ biện pháp tạm giam, bị cáo có mặt.

Người làm chứng:

 Anh Nguyễn Huy B, sinh năm1984 (Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên). (vắng mặt)

Bà Bùi Thị Thu V, sinh năm 1985 (Địa chỉ: Tổ dân phố 04, TT E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk). (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 02/5/2018, Lại Thế T được Công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Hà Việt ký hợp đồng lao động với công việc là thủ kho, được giao quản lý và trông coi kho mật tại địa chỉ: thôn 06, xã TS, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Trong quá trình làm việc, Thịnh vừa sử dụng phòng thủ kho làm nơi làm việc và làm nơi ở cùng với vợ con của Thịnh. Đến khoảng 12 giờ 15 phút ngày 30/12/2018, Đặng Văn H, Đỗ Đại V, Hoàng Tiến L, Bùi Minh Đ là những tài xế lái xe tải đến kho của T để lấy hàng. Khi vừa đến nơi, Lại Thế T đi ra kho làm việc để đưa hàng lên xe cho các tài xế, còn Đặng Văn H xuống xe đi vệ sinh. Lúc này, Hoàng Tiến L thấy trên xe của H có 01 bộ bầu cua nên lấy xuống mang vào phòng thủ kho của Thịnh thì gặp Đỗ Đại V, Bùi Minh Đ. Sau đó, L, V, Đ cùng nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức xóc bầu cua.

Hình thức đánh bầu cua như sau: Sử dụng 01 bộ bầu cua gồm 01 bảng giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 cái tô bằng nhôm, màu trắng; 01 cái đĩa bằng nhôm, màu trắng; 03 cục xốp hình lập phương, kích thước khoảng 1,5cm, có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai. Khi bắt đầu chơi thì người làm cái bỏ 03 cục xốp vào đĩa, úp tô lên rồi xóc, những người tham gia chơi thì đặt tiền cược vào các ô có hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai trên bảng giấy. Sau đó, người cầm cái mở tô ra, nếu mặt trên của cục xốp có hình tương ứng với ô mà người chơi đặt tiền cược thì người chơi sẽ thắng, người làm cái phải trả cho người chơi số tiền tương đương mà họ đã đặt cược, ngược lại nếu không có hình tương ứng thì người chơi sẽ thua số tiền đã đặt cược với người làm cái. Quá trình điều tra xác định được: Trong quá trình chơi thì mỗi người thay nhau làm cái 03 ván, số tiền mỗi lần cược ít nhất là 50.000đ, nhiều nhất là 100.000đ.

Hoàng Tiến L, Đỗ Đại V, Bùi Minh Đ đánh bạc được khoảng 05 phút thì Đặng Văn H đi vào tham gia đánh bạc cùng. Sau đó, Lại Thế T đi vào phòng thủ kho để làm việc thì thấy L, V, Đ, H đánh bạc được thua bằng tiền nhưng do cả nể nên đồng ý cho các bị cáo khác sử dụng phòng thủ kho để đánh bạc. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện Cư Jút bắt quả tang.

Vật chứng của vụ án Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút thu giữ gồm: 01 bộ bầu cua gồm: 01 bảng giấy có hình các con vật bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 03 cục xốp hình lập phương kích thước 1,5cm, có in hình các con vật bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 cái đĩa bằng nhôm màu trắng; 01 cái tô bằng nhôm màu trắng; Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng); Thu giữ trên người Bùi Minh Đ số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng); Thu giữ trên người Đỗ Đại V số tiền 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng); Thu giữ trên người Đặng Văn H số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng); Thu giữ trên người Hoàng Tiến L số tiền 8.500.000đ (tám triệu năm trăm nghìn đồng);

Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã chứng minh được số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc như sau: Bùi Minh Đ sử dụng số tiền 1.500.000 đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Đỗ Đại V sử dụng số tiền 1.800.000 đ (một triệu, tám trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Đặng Văn H sử dụng số tiền 2.300.000 đ (hai triệu, ba trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Hoàng Tiến L sử dụng số tiền 2.000.000 đ (hai triệu đồng) để đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 7.600.000 đ (bảy triệu, sáu trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra xác định được: Số tiền thu giữ trên người Bùi Minh Đ, Đỗ Đại V, Đặng Văn H, Hoàng Tiến L là tiền sử dụng vào việc chi tiêu cá nhân trong quá trình lái xe, không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên ngày 21/02/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Bùi Minh Đ số tiền 1.500.000đ; Đỗ Đại V số tiền 1.400.000đ; Đặng Văn H số tiền 10.000.000đ; Hoàng Tiến L số tiền 8.500.000đ là các chủ sở hữu hợp pháp.

Tại bản Cáo trạng số 07/CTr-VKS ngày 27/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố các bị cáo Lại Thế T, Đặng Văn H, Hoàng Tiến L, Đỗ Đại V, Bùi Minh Đ về tội “Đánh bạc” quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa , đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lại Thế T, Đặng Văn H, Hoàng Tiến L, Đỗ Đại V, Bùi Minh Đ phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phat: Bị cáo Lại Thế T; Đỗ Đại V; Đặng Văn H mỗi bị cáo từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phat: Bị cáo Hoàng Tiến L, Bùi Minh Đ mỗi bị cáo từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Bùi Minh Đ số tiền 1.500.000đ; Đỗ Đại V số tiền 1.400.000đ; Đặng Văn H số tiền 10.000.000đ; Hoàng Tiến L số tiền 8.500.000đ là các chủ sở hữu hợp pháp; Tịch thu và tiêu hủy 01 bảng giấy có hình các con vật bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 03 cục xốp hình lập phương kích thước 1,5cm, có in hình các con vật bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 cái đĩa bằng nhôm màu trắng; 01 cái tô bằng nhôm màu trắng; Tịch thu sung công quỹ số tiền thu giữ trên sòng bạc là 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo, Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng thời gian từ 12 giờ 20 phút đến 13 giờ 00 phút ngày 30/12/2018, bị cáo Lại Thế T là người được giao nhiệm vụ trông coi, quán lý phòng thủ kho của Công ty TNHH Kim Hà Việt tại địa chỉ: thôn 06, xã TS, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông đã đồng ý và cho các bị cáo Đặng Văn H, Hoàng Tiến L, Đỗ Đại V, Bùi Minh Đ sử dụng phòng thủ kho của Công ty TNHH Kim Hà Việt để đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh Bầu cua với tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.600.000 đ (bảy triệu, sáu trăm nghìn đồng) thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút bắt quả tang.

Lời khai nhận của cá c b ị cáo hoàn toàn phù hợp với cá c tà i li ệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Lại Thế T, Đặng Văn H, Hoàng Tiến L, Đỗ Đại V, Bùi Minh Đ phạm tội Đánh bạc quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

 “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[3] Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý công cộng mà còn thể hiện thái độ xem thường pháp luật, xem thường nếp sống văn minh của xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn, tuy nhiên, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là khác nhau nên khi xem xét hình phạt đối với các bị cáo cần phải cá thể hóa hình phạt đối với từng bị cáo để đưa ra một mức hình phạt sao cho tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Trong vụ án này bị cáo Lại Thế T, không trực tiếp tham gia đánh bạc mà chỉ là đồng phạm với vai trò giúp sức khi cho các bị cáo khác mượn phòng thủ kho do mình được giao nhiệm vụ quản lý để làm địa điểm đánh bạc nên tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Thịnh là có phần ít nghiêm trọng hơn so với các bị cáo khác, Hội đồng xét xử xem xét để áp dụng một mức hình phạt với tương xứng đối với bị cáo.

Các bị cáo Đặng Văn H, Hoàng Tiến L, Đỗ Đại V, Bùi Minh Đ là những người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc hơn, tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Các bị cáo Hoàng Tiến L, Bùi Minh Đ có hoàn cảnh gia đình khó khăn và là lao động chính duy nhất trong gia đình; ngoài ra bị cáo Bùi Minh Đ có vợ bị bệnh nặng và đang nuôi con bị khuyết tật trí tuệ nên các bị cáo này được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Lời đề nghị, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tại phiên tòa là có căn cứ, đúng luật, phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Trong vụ án này các bị cáo đều có nhân thân tốt; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đều có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không làm ảnh hướng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm; Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để cho các bị cáo này được hưởng án treo, điều đó cũng là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhà nước.

[7] Hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với số tiền thu giữ trên người của Bùi Minh Đ là 1.500.000đ; thu giữ trên người Đỗ Đại V 1.400.000đ; thu giữ trên người Đặng Văn H 10.000.000đ và thu giữ trên người Hoàng Tiến L 8.500.000đ, đây là số tiền các bị cáo không sử dụng vào mục đích đánh bạc, nên việc Cơ quan CSĐT huyện Cư Jút ra quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền trên cho các bị cáo này là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.

Cần tịch thu sung công quỹ số tiền thu giữ trên sòng bạc là 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Tịch thu và tiêu hủy 01 bảng giấy có hình các con vật bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 03 cục xốp hình lập phương kích thước 1,5cm, có in hình các con vật bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 cái đĩa bằng nhôm màu trắng; 01 cái tô bằng nhôm màu trắng không có giá trị sử dụng.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì ca c lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bô: Các bị cáo Lại Thế T, Đặng Văn H, Hoàng Tiến L, Đỗ Đại V, Bùi Minh Đ phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Lại Thế T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 01(một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đại V 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 01(một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn H 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 01(một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Tiến L 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 01(một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Minh Đ 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 01(một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lại Thế T cho Uỷ ban nhân dân thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Đỗ Đại V cho Uỷ ban nhân dân xã S, huyện S1, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Đặng Văn H cho Uỷ ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Hoàng Tiến L cho Uỷ ban nhân dân thị trấn I, huyện I1, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Bùi Minh Đ cho Uỷ ban nhân dân phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Bùi Minh Đ số tiền 1.500.000đ; Đỗ Đại V số tiền 1.400.000đ; Đặng Văn H số tiền 10.000.000đ; Hoàng Tiến L số tiền 8.500.000đ là các chủ sở hữu hợp pháp; Tịch thu sung công quỹ số tiền thu giữ trên sòng bạc là 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng). Tịch thu và tiêu hủy 01 bảng giấy có hình các con vật bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 03 cục xốp hình lập phương kích thước 1,5cm, có in hình các con vật bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 cái đĩa bằng nhôm màu trắng; 01 cái tô bằng nhôm màu trắng không có giá trị sử dụng.

3. Về án phí: Các bị cáo Lại Thế T, Đặng Văn H, Hoàng Tiến L, Đỗ Đại V, Bùi Minh Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đô ng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


37
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/HS-ST ngày 12/05/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:10/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cư Jút - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về