Bản án 10/2019/DS-ST ngày 09/04/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự (hụi)

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 10/2019/DS-ST NGÀY 09/04/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ (HỤI)

Ngày 09 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2019/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2019 về “tranh chấp hợp đồng dân sự (hụi)”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lìu Và D (tên gọi khác là K), sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp H1, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960. Địa chỉ: Ấp H1, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.

3. Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp H1, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt. Người làm chứng xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 17/7/2018, quá trình tham gia t tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lìu Và D trình bày:

Bà D với bà T ở cùng ấp H1, xã A. Bà T có tham gia chơi 02 dây hụi do bà Lìu Và D (tên gọi khác là K) làm chủ, cụ thể:

+ Dây hụi mở ngày 30/5/2015, hụi 2.000.000 đồng/tháng, có 24 người tham gia, bà T chơi 01 phần (chân hụi). Bà D có giao cho các hụi viên tờ giấy có danh sách các hụi viên để các hụi viên tự theo dõi việc đóng, hốt hụi; tờ giấy này thay cho sổ theo dõi hụi. Khi khui hụi thì có tập hợp các thành viên trong dây hụi có mặt (trừ các thành viên đi làm công ty thì không có mặt được nhưng được bà D thông báo qua điện thoại). Dây hụi này chỉ khui hụi từ tháng 05 đến tháng 12 (một năm chỉ khui 08 tháng) vì các tháng còn lại cao su không cạo nên hụi úp không khui. Ngày 08/11/2016, bà T hốt hụi với số tiền là 38.900.000 đồng. Bà D có làm giấy giao hụi ngày 08/11/2016 số tiền 38.900.000 đồng và bà T có ký tên xác nhận. Sau khi hốt hụi, bà T không đóng tiền hụi chết của 05 kỳ hụi tiếp theo (30/12/2016, 30/5/2017, 30/6/2017, 30/7/2017, 30/8/2017) với tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Đến kỳ hụi ngày 30/9/2017, bà T đóng được cho bà D số tiền 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, 03 kỳ hụi cuối (30/10/2017, 30/11/2017, 30/12/2017) bà T tiếp tục không đóng tiền hụi chết với tổng số tiền 6.000.000 đồng. Hụi đã mãn vào tháng 12/2017. Như vậy, tổng số tiền hụi chết bà T còn thiếu của bà D của dây hụi này là 17.000.000 đồng.

+ Dây hụi mở ngày 10/6/2016, hụi 2.000.000 đồng/tháng, có 16 người tham gia, bà T chơi 02 phần (chân hụi). Bà D có giao cho các hụi viên tờ giấy có danh sách các hụi viên để các hụi viên tự theo dõi việc đóng, hốt hụi; tờ giấy này thay cho sổ theo dõi hụi. Khi khui hụi thì có tập hợp các thành viên trong dây hụi có mặt (trừ các thành viên đi làm công ty thì không có mặt được nhưng được bà D thông báo qua điện thoại). Dây hụi này chỉ khui hụi từ tháng 05 đến tháng 12 (một năm chỉ khui 08 tháng) vì các tháng còn lại cao su không cạo nên hụi úp không khui. Ngày 10/8/2016, bà T hốt chân hụi thứ nhất được số tiền 21.270.000 đồng. Sau khi hốt hụi bà T đóng được 02 kỳ hụi chết (09/2016, 10/2016) với số tiền là 4.000.000 đồng. Đến ngày 16/11/2016, bà T tiếp tục hốt hụi với số tiền là 23.700.000 đồng. Bà D có làm giấy giao hụi ngày 16/11/2016 số tiền 23.700.000 đồng và bà T có ký tên xác nhận. Do bà T tham gia 02 phần hụi và đã hốt hụi nên từ tháng 12/2016 cho đến khi mãn hụi, mỗi tháng bà T phải đóng 4.000.000 đồng tiền hụi chết cho bà D. Từ tháng 05/2017 đến tháng 09/2017, bà T đóng tiền hụi chết cho bà D được 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, từ tháng 10/2017 đến tháng 12/2017, bà T chỉ đóng hàng tháng 2.000.000 đồng tiền hụi chết và còn thiếu bà D 6.000.000 đồng tiền hụi chết. Hụi đã mãn tháng 12/2017. Như vậy, tổng số tiền hụi chết bà T còn thiếu của bà D của dây hụi này là 6.000.000 đồng.

Do bà D yêu cầu bà T nhiều lần nhưng bà T không trả nên bà D khởi kiện ra Tòa yêu cầu bà T phải thanh toán số tiền hụi còn nợ của hai dây hụi là 23.000. 000 đồng.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn gồm: Giấy giao hụi đề ngày 16/11/2016, 08/11/2016, 16/8/2016 cho bà Nguyễn Thị T (đã đối chiếu bản gốc); danh sách hụi viên hụi mở ngày 30/5/2015, danh sách hụi viên hụi mở ngày 10/6/2016, giấy theo dõi hốt hụi hụi mở ngày 30/5/2015, giấy theo dõi hốt hụi hụi mở ngày 10/6/2016 (đã đối chiếu bản gốc); các giấy giao hụi cho bà Phân, bà Vũ Thị T, bà Bùi Thị L, bà Nguyễn Thị Hồng N, ông Trịnh Văn S, ông T1, bà Tùng L1 (đã đối chiếu bản gốc); bản tự khai, bản tự khai bổ sung của nguyên đơn (bản gốc); bản tường trình của ông Nguyễn Văn T1, bà Bùi Thị Kim T2, bà Vũ Thị T, ông Châu Ngọc Đ (bản gốc).

Ngoài ra, nguyên đơn không cung cấp chứng cứ, không trình bày ý kiến gì thêm.

- Quá trình tham gia t tụng và tại phiên toà, bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà T thống nhất có tham gia chơi 02 dây hụi do bà Lìu Và D làm chủ, cụ thể:

+ Dây hụi mở ngày 30/5/2015, hụi 2.000.000 đồng/tháng, có 24 người tham gia, bà T chơi 01 phần (chân hụi). Bà D có giao cho bà T tờ giấy theo dõi hụi có danh sách các hụi viên. Dây hụi này chỉ khui hụi từ tháng 05 đến tháng 12 (một năm chỉ khui 08 tháng) vì các tháng còn lại cao su không cạo nên hụi úp không khui. Ngày 08/11/2016, bà T hốt hụi với số tiền là 38.900.000 đồng. Bà D có làm giấy giao hụi ngày 08/11/2016 số tiền 38.900.000 đồng và bà T có ký tên xác nhận. Hụi đã mãn vào tháng 12/2017. Sau khi hốt hụi, bà T đã đóng hết hụi chết cho bà D, không còn nợ tiền hụi của dây hụi này như bà D yêu cầu. Khi đến kỳ đóng hụi thì bà T đến nhà bà D để đóng tiền hụi cho bà D hoặc bà D đến nhà bà T thu tiền hụi. Bà T đóng hụi cho bà D nhưng không thực hiện việc tự theo dõi, khi kết thúc hụi cũng không yêu cầu bà D xác nhận nên bà T không có chứng cứ chứng minh (các thành viên khác cũng tương tự).

+ Dây hụi mở ngày 10/6/2016, hụi 2.000.000 đồng/tháng, có 16 người tham gia, bà T chơi 02 phần (chân hụi). Bà D có giao cho bà T tờ giấy theo dõi hụi có danh sách các hụi viên. Dây hụi này chỉ khui hụi từ tháng 05 đến tháng 12 (một năm chỉ khui 08 tháng) vì các tháng còn lại cao su không cạo nên hụi úp không khui. Ngày 16/11/2016, bà T hốt hụi với số tiền là 23.700.000 đồng. Bà D có làm giấy giao hụi ngày 16/11/2016 số tiền 23.700.000 đồng và bà T có ký tên xác nhận. Hụi đã mãn vào tháng 12/2017. Sau khi hốt hụi, bà T đã đóng hết hụi chết cho bà D, không còn nợ tiền hụi của dây hụi này như bà D yêu cầu. Khi đến kỳ đóng hụi thì bà T đến nhà bà D để đóng tiền hụi cho bà D hoặc bà D đến nhà bà T thu tiền hụi. Bà T đóng hụi cho bà D nhưng không có người làm chứng, không thực hiện việc tự theo dõi, khi kết thúc hụi cũng không yêu cầu bà D xác nhận nên bà T không có chứng cứ chứng minh (các thành viên khác cũng tương tự).

Bà T không đồng ý đối với yêu cầu của bà D buộc bà T phải thanh toán số tiền hụi còn nợ là 23.000.000 đồng vì bà T đã đóng hết hụi chết, không còn nợ hụi của bà D. Bà T yêu cầu bà D phải chứng minh việc bà T thiếu tiền không đóng hụi bằng giấy nợ hụi, còn không thì bà T không đồng ý.

Chứng cứ bị đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến của bị đơn: Giấy chứng thực của bà Bùi Thị Liên, Nguyễn Thị H, Đỗ Thị Thuỳ Linh, Lê Thị Thanh Hậu.

Ngoài ra, bị đơn không cung cấp chứng cứ, không trình bày ý kiến gì thêm.

- Quá trình tham gia t tụng và theo đơn yêu cầu giải quyết vng mặt người làm chứng trình bày:

+ Bà Nguyễn Thị H: Bà H có tham gia chơi dây hụi do bà D làm chủ hụi mở ngày 10/6/2016, hụi 2 triệu đồng/tháng, có 16 người chơi, bà H tham gia chơi một phần tên “H”. Hiện nay, bà H đã đóng xong hụi và hụi đã mãn. Khi hốt hụi thì bà D có giao giấy hụi cho bà H ký tên, còn khi đóng hụi xong thì do tin tưởng bà H cũng không làm giấy tờ gì ghi nhận đã đóng hụi xong cho bà D. Việc bà T đã đóng hụi xong cho bà D hay chua thì bà H không chứng kiến nên không nắm được.

+ Bà Nguyễn Thị Hồng N: Bà N có tham gia chơi dây hụi do bà D làm chủ hụi mở ngày 30/5/2015, hụi 2 triệu đồng/tháng, có 24 người chơi, bà N tham gia chơi hai phần, tên ghi trong giấy hụi là “chị 6”. Hiện nay, bà N đã đóng xong hụi và hụi đã mãn. Khi hốt hụi thì bà D có giao giấy hụi cho bà N ký tên, khi đóng hụi xong thì bà D có mang sổ đến cho bà N ký xác nhận đã đóng hụi xong cho bà D. Việc bà T đã đóng hụi xong cho bà D hay chưa thì bà N không chứng kiến, không nắm được.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung thủ tục tố tụng.

Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà D khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự (hụi) với bị đơn bà Nguyễn Thị T, bị đơn bà T hiện có hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại ấp H1, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Nguyên đơn bà D khởi kiện yêu cầu bị đơn bà T phải trả số tiền hụi chưa đóng cho bà D của hai dây hụi là 23.000.000 đồng, cụ thể:

+ Dây hụi mở ngày 30/5/2015, hụi 2.000.000 đồng/tháng, có 24 người tham gia, bà T chơi 01 phần (chân hụi). Dây hụi này chỉ khui hụi từ tháng 05 đến tháng 12 (một năm chỉ khui 08 tháng) vì các tháng còn lại cao su không cạo nên hụi úp không khui. Ngày 08/11/2016, bà T hốt hụi với số tiền là 38.900.000 đồng. Bà D có làm giấy giao hụi ngày 08/11/2016 số tiền 38.900.000 đồng và bà T có ký tên xác nhận. Hụi đã mãn vào tháng 12/2017.

+ Dây hụi mở ngày 10/6/2016, hụi 2.000.000 đồng/tháng, có 16 người tham gia, bà T chơi 02 phần (chân hụi). Dây hụi này chỉ khui hụi từ tháng 05 đến tháng 12 (một năm chỉ khui 08 tháng) vì các tháng còn lại cao su không cạo nên hụi úp không khui. Ngày 10/8/2016, bà T hốt chân hụi thứ nhất được số tiền 21.270.000 đồng. Đến ngày 16/11/2016, bà T tiếp tục hốt chân hụi thứ hai với số tiền là 23.700.000 đồng. Bà D có làm giấy giao hụi ngày 16/8/2016 số tiền 21.270.000 đồng, ngày 16/11/2016 số tiền 23.700.000 đồng và bà T có ký tên xác nhận. Hụi đã mãn tháng 12/2017.

[2.2] Bị đơn bà T thừa nhận có tham gia hai dây hụi nêu trên, đã hốt hụi và ký nhận hụi ngày 16/8/2016, 08/11/2016 và 16/11/2016 theo giấy giao hụi do nguyên đơn cung cấp. Đây là tình tiết được các đương sự thừa nhận nên không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.3] Hợp đồng dân sự (hụi) giữa nguyên đơn bà D (chủ hụi) với bị đơn bà T (hụi viên) được thiết lập trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung không trái quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Nguyên đơn đã thực hiện việc giao tiền hụi cho bị đơn theo các giấy giao hụi được các bên thừa nhận. Bị đơn sau khi nhận tiền hốt hụi phải có trách nhiệm đóng tiền hụi chết hàng tháng cho nguyên đơn đến khi hụi mãn.

[2.4] Nguyên đơn bà D xác định bị đơn sau khi hốt hụi xong còn nợ tiền hụi chết của 02 dây hụi là 23.000.000 đồng căn cứ vào giấy giao hụi, quá trình theo dõi việc đóng hụi các hụi viên của nguyên đơn và việc các hụi viên đóng xong hụi chết cho nguyên đơn sẽ yêu cầu nguyên đơn xác nhận việc đóng xong hụi vào giấy giao hụi. Bị đơn bà T cho rằng đã đóng hết tiền hụi cho nguyên đơn bà D nhưng thừa nhận không có người làm chứng, không có chứng cứ chứng minh, các hụi viên khác cũng không biết. Bà T cho rằng bà và tất cả các hụi viên khác đều không có các giấy tờ hay chứng cứ ghi nhận đã đóng xong hụi cho nguyên đơn. Tuy nhiên, căn cứ vào các giấy tờ nguyên đơn cung cấp, cũng như qua lời trình bày của người làm chứng thì nguyên đơn có xác nhận cho những hụi viên đã đóng xong hụi chết, trừ một số trường hợp chưa xác nhận trong đó có bà T. Ý kiến của bị đơn là không phù hợp với chứng cứ và các tình tiết của vụ án. Như vậy, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền hụi còn nợ là 23.000.000 đồng.

[3] Quan điểm về nội dung vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 217, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lìu Và D (tên gọi khác là K) đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T về việc “tranh chấp hợp đồng dân sự (hụi)”.

Buộc bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm thanh toán cho bà Lìu Và D (tên gọi khác là K) số tiền hụi còn nợ là 23.000.000 đồng (hai mươi ba hiệu đồng).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Lìu Và D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị T không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng bà T còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị T phải chịu 1.150.000 đồng (một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).

Hoàn trả cho bà Lìu Và D số tiền 575.000 đồng (năm trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0012762 ngày 02 tháng 01 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bình Dương.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (09/4/2019).

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/DS-ST ngày 09/04/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự (hụi)

Số hiệu:10/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dầu Tiếng - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về