Bản án 10/2019/DS-PT ngày 04/01/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 10/2019/DS-PT NGÀY 04/01/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Trong các ngày 24 tháng 12 năm 2018 và 04 tháng 01 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 538/DSPT ngày 01/11/2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 313/2018/DSST ngày 17/09/2018 của Tòa án nhân dân Quận Q bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 6268/2018/QĐ-PT ngày 24 tháng 12 năm 2018 và Quyết định Tạm ngừng phiên tòa số 10563/2018/QĐ-PT ngày 24/12/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông H.

Địa chỉ: Số 300 đường Đ1, Phường P1, Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông D. (Có mặt)

Địa chỉ liên hệ: 42 Đường Đ2, phường P2, Quận Q2, Thành phố Hồ Chí Minh.(Theo giấy ủy quyền lập ngày 14/12/2018 tại Văn phòng Công chứng Hoàng Xuân Ngụ).

2. Bị đơn: Bà P.

Địa chỉ liên hệ: 161E/12 Đường Đ3, Phường P3, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông H1. (Có mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông V. (Có Đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 870/7 Đường Đ3, Phường P1, Quận Q3, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Người kháng cáo: Bà P – Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông H có người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 16/9/2012, bà P có vay của ông H số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) với cam kết trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày vay sẽ trả đủ số tiền trên. Giữa hai bên có ký Giấy mượn tiền ngày 16/9/2012, không quy định lãi suất. Ông H đã nhiều lần yêu cầu bà P phải trả số tiền trên nhưng bà P vẫn chưa thanh toán một khoản tiền nào.

Phía nguyên đơn còn trình bày thêm, Hợp đồng vay tiền số công chứng 031669 ngày 14/11/2013 lập tại Phòng Công chứng số 2 là để tái khẳng định lại việc vay tiền giữa ông H và bà P theo Giấy vay tiền ngày 16/9/2012 mà không phải là hai khoản vay riêng biệt. Giấy vay tiền ngày 19/6/2012 và Hợp đồng vay tiền ngày 14/11/2013 chỉ thể hiện cho một khoản tiền vay duy nhất là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Bà P đã nhận tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) theo giấy vay tiền ngày 16/9/2012 nên hợp đồng vay tiền ngày 14/11/2013 không có việc giao nhận tiền theo điều 1 của hợp đồng. Ngoài ra, do trước đây ông H có nhận giữ giấy tờ quyền sử dụng đất của bà P để đảm bảo khoản vay nhưng sau đó ông đã chuyển giao giấy tờ, trên để cho bà P, lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 031667 ngày 14/11/2013 tại Phòng công chứng số 2 cho ông V, nên ông H không còn giữ các loại giấy tờ nêu trên.

Nay ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà P trả số tiền vay gốc là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) và phải trả tiền lãi tính theo mức lãi suất 0,5%/tháng, thời điểm tính lãi kể từ ngày ký Hợp đồng vay tiền là ngày 14/11/2013 tại Phòng công chứng số 2, Thành phố Hồ Chí Minh, tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm, trả hết vốn và lãi ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn trình bày: Vẫn giữ nguyên trình bày trên và ông Thắng có ý kiến giải thích rõ hơn tại sao có việc xác lập hợp đồng số 031669 ngày 14/11/2013 lập tại Phòng Công chứng số 2, là vì bà P đã đồng ý chuyển nhượng phần đất nêu trên cho ông V theo hợp đồng chuyển nhượng số 031667 ngày 14/11/2013, để có tiền trả nợ cho ông H, ông H đồng ý nên đã chuyển giao giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (bản chính) để bà P thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông V. Để đảm bảo khoản nợ vay và tái xác nhận lại số nợ bà P, nên ông H và bà P mới lập hợp đồng vay tiền số 031669 ngày 14/11/2013. Khi xác lập những giao dịch trên bà P cũng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nay nguyên đơn yêu cầu bà P hoàn trả nợ gốc 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) và tiền lãi tính theo lãi suất 05%/tháng từ ngày 14/11/2013 đến ngày xét xử là 57 tháng là 285.000.000 đồng (dư 03 ngày không yêu cầu tính lãi).

Tại Đơn yêu cầu và tại các biên bản hòa giải, phía bị đơn – bà P trình bày:

Theo bản tự khai và các biên bản hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phạm Thị Thơm trình bày:

Bị đơn thừa nhận có vay của ông H số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) theo giấy mượng tiền ngày 16/9/2012 và thế chấp cho ông H các loại giấy tờ bản chính gồm:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 231480 ngày 30/11/2011 do bà P đứng tên.

+ Thông báo nộp lệ phí trước bạ số 11CQN0020284/CCT-LPTB&TK ngày 21/12/2011 của Chi cục thuế quận Q4.

Đến ngày 14/11/2013, bà P và ông H đến Phòng công chứng số 2 Thành phố Hồ Chí Minh để ký hợp đồng vay tiền số 031669 ngày 14/11/2013, ký hợp đồng này là ký xác nhận lại số tiền nợ 1.000.000.000đ (một tỷ đồng), nhưng giữa hai bên chưa hủy bỏ giấy mượn tiền ngày 16/9/2012. Bà P khẳng định khi ký hợp đồng vay tiền ngày 14/11/2013 thì bà P không có nhận thêm bất cứ khoản tiền nào của ông H và giải quyết cấn trừ bằng việc ông H đã nhận hết giấy tờ chủ quyền và đất của bà P, bà P không còn nợ ông H. Bà P khẳng định hợp đồng vay tiền ngày 14/11/2013 và giấy mượn tiền ngày 16/9/2012 là một, thể hiện cùng một nội dung có vay nợ ông H 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) và bà P đã trả hết nợ bằng việc thế chấp giấy tờ đất cho ông V. Bà P xác định không còn nợ ông H, nên đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông V trình bày:

Ông V và bà P có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để nhận chuyển nhượng thửa đất số 549 tờ bản đồ số 20 tại phường P4, quận Q4 với giá là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Hợp đồng đã được công chứng số 031667 ngày 14/11/2013 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố Hồ Chí Minh. Ông V đã thanh toán cho bà P đủ số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Khi thanh toán tiền thì bà P có ký Giấy nhận tiền ngày 14/11/2013 giao cho ông. Ông không liên quan đến quan hệ vay mượn tài sản giữa bà P và ông H.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 313/2018/DSST ngày 17 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận Q đã tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H về việc yêu cầu bà P trả nợ:

Buộc bà P có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền nợ gốc và tiền lãi là 1.285.000.000 đồng (một tỷ hai trăm tám mươi lăm triệu đồng). Trả hết vốn và lãi khi án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí:

- Bà P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 50.550.000 đồng (năm mươi triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

- Hoàn lại cho ông H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 50.550.000 đồng (năm mươi triệu năm trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AD/2012/08125 ngày 10/10/2014 của Chi cục thi hành án dân sự Quận Q.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và việc thi hành án của các đương sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn bà P là ông H1 trình bày: Phía bị đơn xác định không có yêu cầu phản tố về việc tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữ bà P và ông V. Bị đơn kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bà P đã thực hiện việc cấn trừ nợ cho ông H bằng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông V. Phía bà P xác nhận việc chuyển nhượng cho ông V là hoàn toàn theo sự yêu cầu và sắp đặt của ông H. Tuy nhiên bà P không có chứng cứ để chứng minh mà chỉ qua trao đôi miệng. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông V có mục đích là cấn trừ nợ của ông H nên hiện nay bà P không còn nợ ông H bất kỳ khoản nào. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn ông H có ông D là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm và bác kháng cáo của bà P.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên trình bày ý kiến, sau khi nghe Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà P làm trong thời hạn luật định nên chấp nhận.

Ông V có Đơn xin vắng mặt đề ngày 14/8/2018 với nội dung xin được vắng mặt tại phiên tòa tại Tòa án nhân dân các cấp. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vụ án với sự vắng mặt của ông V.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn bà P.

Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ vào giấy nhận nợ ngày 16/9/2012 thể hiện nội dung ông H có cho bà P vay số tiền là 1.000.000.000 đồng. Để xác nhận số nợ vay trên, ông H và bà P tiếp tục lập hợp đồng vay tiền ngày 14/11/2013 cùng với số tiền 1.000.000.000 đồng. Việc vay tiền trên đã được bà P xác nhận và không phản đối.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà P có ông H1 là đại diện theo ủy quyền cho rằng số tiền 1.000.000.000 đồng trên đã được bà P cấn trừ bằng việc lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 031667 ngày 14/11/2013 cho ông V. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thừa nhận chữ ký và chữ viết trên các hợp đồng trên là của bà P. Tuy nhiên, bị đơn cho rằng việc lập hợp đồng này là do bị ông H yêu cầu nhưng không có chứng cứ để chứng minh. Xét thấy, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đã được công chứng theo đúng quy định pháp luật và đã có hiệu lực. Bà P cũng không cung cấp được tài liệu nào để chứng minh giao dịch giữa bà và ông V là giả tạo. Ngoài ra, cùng ngày lập hợp đồng chuyển nhượng thì bà P và ông V còn lập Biên nhận nhận tiền ngày 14/11/2013 có nội dung “Tôi P đã nhận đủ số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) mua bán đất theo hợp đồng mua bán đất số 031667 do Phòng công chứng số 2 công chứng ngày ngày 14/11/2013”. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H1 cho rằng việc bà P viết biên nhận trên là theo yêu cầu của ông H nhưng không cung cấp được chứng cứ để phản đối. Đồng thời, bà P cũng lập hợp đồng ủy quyền số 03668 ngày 14/11/2013 để ông V “kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thửa đất...”, “...Bên B lập văn bản nhận bản chính chủ quyền...”. Qua hợp đồng ủy quyền này, bà P đã xác nhận bà đang giữ bản chính chủ quyền nên mới có việc bà bàn giao giấy chứng nhận cho ông V. Qua những tài liệu nói trên thể hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà P và ông V là có thật, có sự giao nhận tiền giữa hai bên, giao nhận giấy tờ cũng như thỏa thuận việc việc làm thủ tục để hoàn tất chuyển nhượng và không liên quan đến hợp đồng vay tiền giữa ông H và bà P. Phía bị đơn cho rằng ông H đã buộc bà P phải thực hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông V tuy nhiên không cung cấp được văn bản thỏa thuận hay tài liệu nào để chứng minh nên không có cơ sở để chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp qui định pháp luật nên chấp nhận và giữ nguyên phần quyết định buộc bà P phải trả cho ông H số tiền nợ gốc và tiền lãi là 1.285.000.000 đồng (một tỷ hai trăm tám mươi lăm triệu đồng) là có cơ sở pháp luật.

[3] Về án phí: Do bà Hạnh (Sinh năm 1946) là người cao tuổi và đã có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo). Do đó, bà P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và cần phải sửa phần án phí của bản án sơ thẩm. Đồng thời, bà P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 471, Điều 474, Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo).

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Sa một phần bản án dân sự sơ thẩm về phần án phí dân sự sơ thẩm.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H về việc yêu cầu bà P trả nợ:

Buộc bà P có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền nợ gốc và tiền lãi là 1.285.000.000 đồng (một tỷ hai trăm tám mươi lăm triệu đồng). Trả hết vốn và lãi khi án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà P được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi.

- Hoàn lại cho ông H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 50.550.000 đồng (năm mươi triệu năm trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AD/2012/08125 ngày 10/10/2014 của Chi cục thi hành án dân sự Quận Q.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà P được miễn án phí do thuộc trường hợp là người cao tuổi theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


83
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/DS-PT ngày 04/01/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:10/2019/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 04/01/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về