Bản án 10/2018/DS-ST ngày 11/07/2018 về tranh chấp hụi họ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 10/2018/DS-ST NGÀY 11/07/2018VỀ TRANH CHẤP HỤI HỌ

Ngày 11 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2015/TLST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2015 về tranh chấp hụi họ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2018/QĐST-DS ngày 12/06/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966. Địa chỉ: tiểu khu C, thị trấn H, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn H, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt không có lý do .

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 08/7/2015 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày như sau:

Do có mối quan hệ quen biết ở cùng khu chợ nên bà T có góp họ cho bà Nguyễn Thị L, trú tại Tiểu khu B, thị trấn H làm chủ họ. Mục đích góp họ để tiết kiệm hàng tháng. Hình thức chơi là mỗi dây họ gồm 15 người, mỗi người tự nguyện góp họ hàng tháng là 2.000.000VNĐ cho chủ họ là bà Nguyễn Thị L, lần lượt bốc họ và nhận tiền lãi. Bà T đã góp 03 dây họ do bà L làm chủ họ. Cụ thể:

- Dây họ thứ nhất do bà L cầm cái bà T đã đóng cho bà L được 11 tháng và bốc họ ở tháng thứ 11, còn nợ lại dây họ này 04 tháng là 8.000.000VNĐ.

- Dây họ thứ hai đóng từ ngày 25/9/2013: bà T đã nộp được 10 tháng (từ tháng 09/2013 đến tháng 06 năm 2014) tổng cộng là 17.720.000VNĐ thì bà L thông báo dừng nhận góp họ. Bà T và bà L thỏa thuận thống nhất trừ đi số tiền bà T nợ họ của dây thứ nhất là 8.000.000VNĐ, số tiền bà L còn nợ lại bà T của dây họ này là 9.720.000VNĐ.

- Dây họ thứ 3 từ ngày 15/11/2013: bà T đã nộp được 08 tháng (từ tháng 09/2013 đến tháng 06 năm 2014) tổng cộng là 14.200.000VNĐ thì bà L thông báo dừng nhận góp họ. Tháng 8/2014 bà L đã thanh toán cho bà T số tiền 9.000.000VNĐ. Bà T và bà L thỏa thuận thống nhất số tiền bà L còn nợ lại bà T của dây họ này là 5.200.000VNĐ.

Bà T chưa được bốc họ khi bà L thông báo dừng nhận góp họ. Sau nhiều lần đến yêu cầu thanh toán số tiền đã góp họ, bà L vẫn khất lần nên bà T khởi kiện ra Tòa án, đề nghị bà L phải thanh toán số tiền đã góp họ cho bà L của dây họ ngày 25/9/2013 và dây họ ngày 15/11/2013, tổng số tiền là 14.920.000VNĐ, không yêu cầu tính lãi.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu bà L phải thanh toán 14.920.000VNĐ và không yêu cầu tính lãi.

Theo bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà L xác nhận bà T tự nguyện chơi họ. Mỗi dây họ có 15 người chơi, mỗi tháng góp 2.000.000VNĐ nhưng không có cam kết cụ thể. Bà L cho rằng chỉ là người giữ tiền và cho người chơi đến bốc họ, trả tiền lãi hàng tháng. Đối với dây họ ngày 25/9/2013, bà T có chơi. Tuy nhiên, dây họ này bà Phạm Thị N tham gia góp họ 07 chân. Đến ngày 4/7/2014, bà N bỏ trốn khỏi địa phương cùng số tiền họ đã bốc là 60.000.000VNĐ. Vì vậy, bà L đã có đơn đề nghị công an Mai Sơn giải quyết nhưng vẫn chưa có kết quả. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T đối với số tiền đã góp họ là 14.920.000VNĐ, bà L cho rằng khi nào đòi được tiền của bà N thì sẽ thanh toán cho bà T.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập các đương sự để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được và phải đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 147, 227, 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 479 Bộ luật dân sự 2005; Điều 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày27/11/2006 về họ, hụi, biêu phường; khoản 2 Điều 26,  Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Buộc bà Nguyễn Thị L phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền họ là 14.920.000VNĐ (Mười bốn triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng). Ghi nhận việc bà Nguyễn Thị T không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Việm kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị L xác nhận có T thuận về việc chơi họ. Sau khi dừng chơi họ, các bên đã có thỏa thuận số tiền họ bà L đã nhận góp họ, tuy nhiên bà L chưa thanh toán số tiền đã góp họ cho người chơi. Do bị đơn bà L cư trú trên địa bàn huyện Mai Sơn nên Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn thụ lý vụ án tranh chấp hụi họ, phù hợp với quy định tại Điều 26 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 2 Điều 227 BLTTDS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy bà L thừa nhận tư cách chủ họ (cầm cái) nhận tiền góp họ hàng tháng của thành viên (người chơi) và tổ chức bốc họ, trả tiền lãi cho người chơi với mục đích tiết kiệm hàng tháng, tương trợ nhau. Vì vậy, giao dịch họ giữa bà L và bà T là có thật, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà T tham gia góp 03 dây họ do bà L làm chủ họ. Cụ thể:

- Dây họ thứ nhất do bà L cầm cái bà T đã đóng cho bà L được 11 tháng và bốc họ ở tháng thứ 11, còn nợ lại dây họ này 04 tháng là 8.000.000VNĐ.

- Dây họ thứ hai đóng từ ngày 25/9/2013: bà T đã nộp được 10 tháng (từ tháng 09/2013 đến tháng 06 năm 2014) tổng cộng là 17.720.000VNĐ thì bà L thông báo dừng nhận góp họ. Bà T và bà L thỏa thuận thống nhất trừ đi số tiền bà T nợ họ của dây thứ nhất là 8.000.000VNĐ, số tiền bà L còn nợ lại bà T của dây họ này là 9.720.000VNĐ.

- Dây họ thứ 3 từ ngày 15/11/2013: bà T đã nộp được 08 tháng (từ tháng 09/2013 đến tháng 06 năm 2014) tổng cộng là 14.200.000VNĐ thì bà L thông báo dừng nhận góp họ. Tháng 8/2014 bà L đã thanh toán cho bà T số tiền 9.000.000VNĐ. Bà T và bà L thỏa thuận thống nhất số tiền bà L còn nợ lại bà T của dây họ này là 5.200.000VNĐ.

Tổng cộng số tiền bà L còn chưa thanh toán cho bà T là 14.920.000đ. Căn cứ vào sổ nộp họ hàng tháng do bà T cung cấp có chữ ký xác nhận nhận tiền hàng tháng của bà L và xác nhận của bà L về việc bà T tự nguyện nộp tiền họ cho bà là 14.920.000VNĐ, chứng minh bà L là người trực tiếp nhận tiền góp họ của bà T. Bà L cho rằng bà Phạm Thị N tham gia 07 dây họ đã cầm tiền họ của mọi người và bỏ trốn khỏi địa phương nên khi đòi được tiền của bà N sẽ thanh toán cho bà T. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bà L không chứng minh được việc bà N là người cầm tiền. Việc không thanh toán tiền cho nguyên đơn thuộc trách nhiệm của bị đơn, hơn nữa bị đơn là người có lỗi trong việc cầm cái hụi họ, không thông báo cho các thành viên trong dây họ về việc bốc họ làm thất thoát toàn bộ số tiền của người chơi mà bị đơn là người trực tiếp thu tiền , quản lý. Sau khi dừng chơi họ, các bên đã tự thỏa thuận thống nhất số tiền nguyên đơn đã góp họ thực tế là 14.920.000VNĐ đây là thỏa thuận tự nguyện của chủ họ và thành viên, không trái quy định của pháp luật nên cần chấp nhận. Điều 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/11/2006 về họ, hụi, biêu phường quy định: “Trong trường hợp chủ họ đã thu các phần họ của các thành viên nhưng không giao cho thành viên được lĩnh họ thì theo yêu cầu của thành viên có quyền lĩnh họ, chủ họ phải giao các phần họ đã thu được cho thành viên đó và bồi thường thiệt hại nếu có”. Do bà T không yêu cầu tính lãi thể hiện ý chí tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và quy định của pháp luật nên cần chấp nhận. Vì những lý do trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần buộc bà L phải có trách nhiệm thanh toán cho bà L phải thanh toán cho bà T số tiền họ đã thu thực tế là 14.920.000VNĐ.

[3] Về án phí, lệ phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 746.000 VNĐ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 147, 227, 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 479 Bộ luật dân sự 2005; Điều 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/11/2006 về họ, hụi, biêu phường; khoản 2 Điều 26, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Buộc bà Nguyễn Thị L phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền họ là 14.920.000VNĐ (Mười bốn triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng).

Ghi nhận việc bà Nguyễn Thị T không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 746.000VNĐ (Bảy trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).

Bà Nguyễn Thị T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 373.000VNĐ (Ba trăm, bảy mươi ba nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2013/01544 ngày 08 tháng 7 năm 2015 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mai Sơn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


139
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 10/2018/DS-ST ngày 11/07/2018 về tranh chấp hụi họ

Số hiệu:10/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mai Sơn - Sơn La
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 11/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về