Bản án 10/2017/HNGĐ-ST ngày 22/09/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 10/2017/HNGĐ-ST NGÀY 22/09/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 68/2017/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2017 giữa:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Xóm M, thôn D, xã LS, huyện KB, tỉnh HN.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Xóm M, thôn D, xã LS, huyện KB, tỉnh HN. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Nam Hà, Tổng cục VIII, Bộ Công an (Đóng tại xã Tân Sơn, huyện Kim bảng, tỉnh Hà Nam).

Phiên tòa có mặt chị Tr; vắng mặt anh T có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 23 tháng 5 năm 2017 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Tr trình bày: Chị và anh Nguyễn Minh T lấy nhau hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LS, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ngày 16 tháng 10 năm 2012. Sau khi cưới vợ chồng cùng nhau chung sống hạnh phúc tại nhà bố mẹ chồng ở xóm M, thôn D, xã LS, huyện KB, tỉnh HN được khoảng hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không chịu tu trí làm ăn, chơi bời lêu lổng, khi chị góp ý anh T đã không nghe mà còn chửi mắng, xúc phạm chị. Đến tháng 11/2014 anh T vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 14 năm tù về tội Hiếp dâm trẻ em. Trong thời gian anh T chấp hành án tại Trại giam Nam Hà, Tổng cục VIII, Bộ Công an, chị có tới thăm anh T hai lần để động viên anh T cải tạo cho tốt để sớm trở về với vợ con, nhưng khi gặp thì giữa chị và anh T lại xảy ra mâu thuẫn, to tiếng, cãi nhau, chính vì vậy mà chị không đến thăm anh T thêm lần nào nữa. Nay chị xác định tình cảm giữa vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh T theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai đề ngày 13 tháng 6 năm 2017, bị đơn là anh Nguyễn Minh T trình bầy và xác nhận: Về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc, thời gian và nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh đúng như chị Tr đã trình bầy. Nay chị Tr làm đơn xin ly hôn, anh hoàn toàn đồng ý và đề nghị Tòa án sớm xem xét, giải quyết.

Về con cái: Chị Tr và anh T thống nhất trình bày, vợ chồng không có con riêng và chỉ có 01 con chung là cháu Nguyễn Hà V, sinh ngày 20/02/2013, hiện nay cháu đang ở với chị Tr. Khi ly hôn chị Tr xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V, kể từ nay cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi, trưởng thành, lao động tự lập được, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T xác nhận do hiện nay anh đang phải chấp hành án phạt tù, không có điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V, nên anh nhất trí giao cháu V cho chị Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh xin không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Tr.

Về tài sản chung, riêng; công sức đóng góp; diện tích đất nông nghiệp và công nợ: Chị Tr và anh T thống nhất xác nhận, trình bầy cho đến nay không có gì, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Tr vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên, không thay đổi, bổ sung gì. Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, 57, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tr. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Tr và anh Nguyễn Minh T. Giao cháu Nguyễn Hà V, sinh ngày 20/02/2013 cho chị Tr trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Tr.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Minh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa không ai đề nghị hoãn phiên tòa, nên đây thuộc trường hợp bị đơn vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Về nội dung: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và và quan điểm đề nghị giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tr và anh Nguyễn Minh T lấy nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LS huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ngày 16 tháng 10 năm 2012. Phải khẳng định đây là cuộc hôn nhân tự do, tiến bộ, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên sau ngày cưới, vợ chồng chỉ cùng nhau chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T chơi bời, không chịu tu trí làm ăn dẫn đến vi phạm pháp luật. Nay chị Tr làm đơn xin ly hôn, anh T hoàn toàn nhất trí ly hôn, như vậy chứng tỏ tình cảm giữa vợ chồng chị Tr, anh T đã thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc thuận tình ly hôn giữa chị Tr và anh T là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần xem xét chấp nhận.

[2] Về con cái: Chị Tr, anh T không có con riêng mà chỉ có 01 con chung là cháu Nguyễn Hà V, sinh ngày 20/02/2013, hiện cháu đang ở với chị Tr. Do anh T đang phải chấp hành án phạt tù, không có điều kiện chăm sóc con chung, nên cả hai đã tự nguyện thống nhất giao cháu V cho chị Tr được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Tr. Xét đây là sự thỏa thuận tự nguyện của đương sự, cần xem xét chấp nhận.

[3] Về tài sản chung, riêng; công sức đóng góp; diện tích đất nông nghiệp và công nợ: Cả hai cùng thống nhất xác nhận, cho đến nay vợ chồng không có tài sản chung, riêng gì; vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng; vợ chồng không đóng góp được công sức, tài sản gì đối với khối tài sản chung của hai bên gia đình; không được địa phương giao chung đất ruộng cấy nông nghiệp, nay các đương sự không có yêu cầu gì, nên không đặt ra giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tr và anh Nguyễn Minh T thuận tình ly hôn, đáng lẽ ra mỗi bên phải chịu 50% án phí, nhưng do chị Tr xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm (chị Tr xin chịu thay cả phần án phí ly hôn sơ thẩm của anh T). Do vậy cần chấp nhận sự tự nguyện của chị Tr, giao chị Tr chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Ngoài ra còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39, khoản 4 Điều 147 Điều 228, 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, 57, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1.1 Điều 1 mục II phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1. Xử công nhận thuận  tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Tr và anh Nguyễn Minh T.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Tr được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hà V, sinh ngày 20/02/2013, kể từ nay cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi, trưởng thành, lao động tự lập được. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Tr.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tr phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền 300.000đồng chị Tr đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001198 ngày 05/6/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, chị Tr đã nộp đủ tiền án phí. Anh T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Nguyễn Thị Tr được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Nguyễn Minh T vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm.


98
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2017/HNGĐ-ST ngày 22/09/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:10/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kim Bảng - Hà Nam
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về