Bản án 101/2019/HS-ST ngày 10/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 101/2019/HS-ST NGÀY 10/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2019/HSST ngày 11 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Nông Văn H (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 17 tháng 10 năm 1994 tại Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã X, Huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn H1, sinh năm 1963 và con bà Nông Thị D, sinh năm 1965; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Ngày 02/5/2017 Trộm cắp tài sản, Công an Huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dưỡng; tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/3/2019 đến nay; có mặt.

2. Trần Văn T (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 20 tháng 01 năm 1995 tại Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã X, Huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S, sinh năm 1954 (đã chết) và con bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1952; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/3/2019 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Trình Văn N, sinh năm 1964; nơi cư trú: số K, đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Chí D, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khối K1, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Văn C; vắng mặt.

2. Anh Lương Trọng T; vắng mặt.

3. Anh Ba Tài H2; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 25/02/2019, Nông Văn H gọi điện thoại cho Trần Văn T là bạn cùng thôn rủ sang nhà chơi trong khi ngồi chơi Nông Văn H rủ Trần Văn T ra thành phố L xem nhà nào có tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, Trần Văn T đồng ý. Sau đó Nông Văn H với Trần Văn T đi xe khách ra thành phố L rồi đi bộ lang thang trên địa bàn thành phố L, khi đi qua khu vực P, phường H, thành phố L phát hiện trên vỉa hè đường T, phường H có 03 đống gỗ (của ông Trình Văn N, sinh năm 1964, trú tại số K đường N, phường Đ, thành phố L) được phủ bạt xanh không có ai trông coi canh giữ, Nông Văn H và Trần Văn T bàn nhau đến đêm sẽ quay lại trộm số gỗ trên đem đi bán.

Khoảng 01 giờ đêm ngày 26/02/2019 Nông Văn H và Trần Văn T đi bộ trên đường Q thuộc địa phận thị trấn C, Huyện C, tỉnh Lạng Sơn nhìn thấy 01 chiếc xe cải tiến để phía trước một ngôi nhà thu mua phế liệu, không có ai trông coi, cả hai đã lấy rồi đẩy xe đến khu vực đống gỗ trên đường T. Nông Văn H và Trần Văn T khiêng 05 thanh gỗ lên xe cải tiến Nông Văn H kéo, còn Trần Văn T đẩy phía sau xe ra khu vực bãi đất trống cách đó khoảng 200m rồi khiêng gỗ vứt xuống rìa đường, sau đó đem xe cải tiến trả lại chỗ cũ, rồi cả hai đi bộ ra khu vực bãi vật liệu xây dựng ở cạnh Q thuộc khối V, thị trấn C, Huyện C nằm ngủ. Khoảng 6 giờ cùng ngày, Trần Văn T đi bộ ra khu vực bãi đất có gỗ vừa trộm được còn Nông Văn H đi bộ ra khu vực ngã tư C thuê một chiếc xe taxi tải đến chở gỗ. Khi xe tải đến nơi, cả hai khiêng 05 thanh gỗ lên xe rồi yêu cầu lái xe đi về hướng thị trấn C, khi đến ngã tư C do lo sợ xe quá tải nên Trần Văn T xuống xe, Nông Văn H cùng lái xe đi tìm nơi bán gỗ. Khi đến tổ V1, khối V2, thị trấn C, Nông Văn H gặp và hỏi anh Phạm Chí D có nhu cầu mua gỗ không, anh Phạm Chí D đồng ý. Nông Văn H bán 05 thanh gỗ cho anh Phạm Chí D được 2.000.000 đồng, trả cho lái xe taxi tải 200.000 đồng, số tiền còn lại Nông Văn H trực tiếp cầm để đi mua ma túy về sử dụng và chi tiêu chung với Trần Văn T.

Chiều ngày 26/02/2019 Nông Văn H tiếp tục rủ Trần Văn T trộm cắp gỗ đem bán, Trần Văn T đồng ý. Khoảng 01 giờ ngày 27/02/2019 Nông Văn H và Trần Văn T tiếp tục đi bộ đến ngôi nhà thu mua phế liệu trên đường Q để lấy xe cải tiến rồi đẩy xe về đường T. Nông Văn H và Trần Văn T tiếp tục khiêng 04 thanh gỗ lên xe cải tiến, rồi cùng nhau đẩy ra bãi đất trống cách đó khoảng 200m khiêng gỗ vứt xuống rìa đường, sau đó đem xe cải tiến trả lại chỗ cũ, rồi cả hai lại đi bộ ra khu vực bãi vật liệu xây dựng ở cạnh Q thuộc khối V3, thị trấn C, Huyện C nằm ngủ. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày Nông Văn H thức dậy rủ Trần Văn T đem gỗ đi bán thì Trần Văn T kêu mệt không đi nên đi một mình, Nông Văn H đi bộ ra ngã tư C thuê xe taxi tải đến chở gỗ mang đi bán, Nông Văn H tiếp tục bán cho Phạm Chí D được số tiền 1.800.000 đồng, lần này Phạm Chí D trả tiền taxi tải. Số tiền trên Nông Văn H vẫn trực tiếp cầm để mua ma túy về sử dụng và chi tiêu chung với Trần Văn T.

Chiều ngày 02/03/2019, Trần Văn T rủ Nông Văn H trộm cắp gỗ đi bán lấy tiền tiêu xài, Nông Văn H đồng ý. Khoảng 16 giờ chiều cùng ngày T và H đi bộ lên thị trấn C, khi đi qua cửa hàng kinh doanh thu mua phế liệu tại tổ Z khối Z1 thị trấn C, Huyện C, tỉnh Lạng Sơn của anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1968, H và T mượn xe cải tiến được anh C đồng ý. H và T kéo xe cải tiến về khu vực bãi vật liệu xây dựng ở cạnh Q thuộc khối V3, thị trấn C, Huyện C nằm ngủ. Đến khoảng 2 giờ sáng ngày 03/03/2019 H và T đẩy xe cải tiến đến khu vực các đống gỗ khiêng 02 thanh gỗ (kích thước mỗi thanh gỗ là 3,3m x 0,26m x 0,15) lên xe cải tiến kéo ra bãi đất trống lần trước vứt hai thanh gỗ ở rìa đường rồi trả lại xe cho anh C rồi lại về ngủ. Đến 07 giờ sáng cùng ngày, H và T tiếp tục đi bộ ra ngã tư C thuê xe taxi tải của anh Ba Tài H2, đi chở gỗ. Trong khi H, T và lái xe đang khiêng gỗ lên xe ô tô thì bị ông Trình Văn N chủ xưởng gỗ và Lương Trọng T công nhân xưởng gỗ theo dõi từ trước phát hiện bắt giữ. Sau khi nhận được trình báo của ông Trình Văn N, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Lạng Sơn đã tiến hành thu giữ vật chứng và đưa các đối tượng về trụ sở công an để làm việc.

Ngày 03/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nông Văn H và Trần Văn T, khi bị bắt thu giữ của Nông Văn H 01 điện thoại di động Viettel viền xanh.

Ngày 03/3/2019 anh Phạm Chí D tự nguyện giao nộp 09 thanh gỗ đã mua với Nông Văn H trong hai ngày 26 và 27/02/2019.

Tại Biên bản định giá tài sản tố tụng hình sự số 34/ĐGTSTT ngày 04/03/2019 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự kết luận: 02 thanh gỗ lim nhập khẩu, kích thước gỗ là 3,3m x 0,26m x 0,15m (thu giữ khi bắt Nông Văn H, Trần Văn T ngày 03/03/2019) có tổng khối lượng 0,257aaabbb trị giá 3.855.000đ; 09 thanh gỗ do Phạm Chí D giao nộp trong đó 02 thanh gỗ lim nhập khẩu, kích thước 2,73m x 0,2m x 0,14m có tổng khối lượng 0,152aaabbb giá trị: 2.280.000đ và 07 thanh gỗ lim nhập khẩu, kích thước 2,73m x 0,14m x 0,14m, tổng khối lượng 0,374m3 giá trị 5.610.000đ. Tổng số 11 thanh gỗ trị giá: 11.745.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nông Văn H và Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 101/CT-VKS, ngày 10/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn H và Trần Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nông Văn H và Trần Văn T thừa nhận: Từ ngày 26/02/2019 đến ngày 03/3/2019 các bị cáo đã ba lần thực hiện trộm cắp 11 thanh gỗ lim nhập khẩu của ông Trình Văn N để tại vỉa hè tại đường T, phường H, thành phố L đem bán cho anh Phạm Chí D để lấy tiền tiêu xài. Cụ thể ngày 26 và ngày 27/02/2019 hai bị cáo lấy trộm được 09 thanh gỗ trị giá 7.890.000 đồng; ngày 03/3/2019 trộm được 02 thanh gỗ trị giá 3.855.000 đồng; tổng giá trị 11 thanh gỗ là 11.745.000 đồng, tiền bán gỗ được hai bị cáo mua ma túy về sử dụng và chi tiêu chung hết.

Tại cơ quan điều tra bị hại ông Trình Văn N trình bày: Ông có xưởng chế biến gỗ tại khu đô thị P, ông có để một vài chồng gỗ, phủ bạt lên các chồng gỗ, không có người trông coi. Ngày 03/3/2019 ông nhận được điện thoại của anh H3 bảo vệ khu P, báo là phát hiện đối tượng trộm trộm gỗ của xưởng gỗ. Sau đó ông cùng anh Hà Lộc T, Lương Văn B đi lên khu để gỗ phát hiện hai nam thanh niên đang chuẩn bị bê hai thanh gỗ lim lên xe ô tô taxi tải. Sau đó lực lượng Công an đến mời ông và những người liên quan về trụ sở làm việc. Tài sản ông bị mất trộm là 11 thanh gỗ lim nhập khẩu, ông đã được Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn trả lại tài sản đầy đủ. Ông có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tại Cơ quan điều tra ông Phạm Chí D trình bày: Do không biết tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên ông đã mua hai lần 09 thanh gỗ với giá 3.800.00 đồng của các bị cáo. Trong đơn xin xét xử vắng mặt, ông không yêu cầu các bị cáo trả lại cho ông số tiền đã bỏ ra mua gỗ.

Tại phiên tòa anh Ba Tài H2 khai: Anh lái xe taxi tải khoảng 7 giờ 45 phút ngày 03/03/2019 đang đỗ xe ở khu vực ngã tư C thì được hai nam thanh niên đến thuê chở gỗ, anh đồng ý và chở hai thanh niên đến khu vực bãi đất trống thuộc khu đô thị P để bốc gỗ, xe ô tô của anh mới đến và đang lùi vào chỗ có 02 thanh gỗ, định bốc lên xe nhưng bị phát hiện, anh không biết tài sản anh được thuê chở do các bị cáo phạm tội mà có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nông Văn H và Trần Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nông Văn H mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 38 điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì các bị cáo không có điều kiện thi hành.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1,2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xác nhận ngày 08/3/2019 Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn đã trả cho ông Trình Văn N 11 thanh gỗ lim nhập khẩu.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu đen viền xanh, số Imel 1: 354586090205766, đã qua sử dụng thu giữ của Nông Văn H tịch thu để hóa giá xung ngân sách nhà nước. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường số tiền 3.800.00 đồng, là số tiền thu lợi bất C cần truy thu sung để sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn. Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về chứng cứ tài liệu trong vụ án được thu thập, bảo quản đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Nông Văn H, Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố, giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp được là 11.745.000 đồng. Lời khai nhận đó, phù hợp với biên bản sự việc lập hồi vào 10 giờ ngày 03/3/3019, vật chứng đã thu giữ và phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nông Văn H, Trần Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố đối với các bị cáo Nông Văn H, Trần Văn T là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, hành vi đó làm mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân tại địa phương. Trong vụ án này các bị cáo đồng phạm giản đơn, nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, vì vậy đối với hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nêu trên cần xem xét những yếu tố liên quan đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các yếu tố khác có liên quan của các bị cáo, trên cơ sở xem xét lời đề nghị, luận tội của Viện kiểm sát.

[5] Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có trình độ văn hóa thấp nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế, các bị cáo đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo Nông Văn H là người có nhân thân xấu, đã có 01 tiền sự, chưa được xóa. Tuy nhiên, tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội nhiều lần nên đều có 01 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

[6] Từ những phân tích như trên Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng để thi hành.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu đen viền xanh, số Imel 1: 354586090205766, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nông Văn H, xác định liên quan đến việc phạm tội, cần tịch thu để hóa giá sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với Nguyễn Văn C người cho Nông Văn H mượn xe cải tiến ngày 02/03/2019, quá trình điều tra xác định Nông Văn C không biết được mục đích Nông Văn H mượn xe để đi trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với Nông Văn C, Hội đồng xét xử không xử lý.

[10] Đối với 02 lái xe tải chở gỗ cho Nông Văn H vào các ngày 26 và 27/02/2019, do không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý trong vụ án. Đối với anh Ba Tài H2, ngày 03/3/2019 đã được thuê đến chở gỗ cho các bị cáo, tuy nhiên xe mới đến nơi đang để 02 thanh gỗ, chưa vận chuyển lên xe và anh không biết gỗ là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có, Cơ quan điều tra trả xe ô tô tải cho anh là chủ sở hữu, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[11] Ngày 08/3/2019 Cơ quan điều tra đã trả lại 11 thanh gỗ cho bị hại ông Trình Văn N, ông Trình Văn N không có yêu cầu bồi thường thêm gì nên Hội đồng xét xử chỉ cần xác nhận.

[12] Đối với ông Phạm Chí D, do không biết tài sản (gỗ) nêu trên là tài sản do Nông Văn H và Trần Văn T phạm tội mà có, Cơ quan điều tra không xử lý nên Hội đồng xét xử cũng không xem xét xử lý. Trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt ông Phạm Chí D không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 3.800.00 đồng đã bỏ ra mua gỗ, do đó cần truy thu đối với các bị cáo số 3.800.00 đồng là tiền thu lợi bất chính; cụ thể bị cáo Nông Văn H 1.900.000 đồng và Trần Văn T 1.900.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

[13] Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 47, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nông Văn H và Trần Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Nông Văn H 12 (mười hai) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 03/3/2019.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn T 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 03/3/2019.

3. Xử lý vật chứng:

- Xác nhận ngày 08/3/2019 Cơ quan điều tra Công an thành phố L đã trả cho lại 11 thanh gỗ cho bị hại ông Trình Văn N;

- Tịch thu để hóa giá sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu đen viền xanh, số Imel 1: 354586090205766, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nông Văn H.

- Truy thu số tiền thu lợi bất chính đối với bị cáo Nông Văn H 1.900.000 đồng và bị cáo Trần Văn T 1.900.000đồng.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Lạng Sơn cùng ngày 07/6/2019).

4. Án phí: Buộc các bị cáo Nông Văn H và Trần Văn T, mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại ông Trình Văn N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phạm Chí D vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 101/2019/HS-ST ngày 10/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:101/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 10/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về