Bản án 101/2019/DS-ST ngày 11/07/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi và mua bán tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 101/2019/DS-ST NGÀY 11/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI VÀ MUA BÁN TÀI SẢN

Trong ngày 11 tháng 07 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 302/2018/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2018 về việc tranh chấp về hợp đồng góp hụi, hợp đồng mua bán tài sản.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2018/QĐXXST-DS ngày 03/6/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Thanh H, sinh năm 1970 nơi cư trú: Số 292, tổ 10, ấp VP, xã VTT, huyện CP, tỉnh An Giang, có mặt.

- Bị đơn: Bà Lê Lệ Th, sinh năm 1965 nơi cư trú: Số 28/24, ấp VH, xã VTT, huyện CP, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 10 năm 2018 và lời khai của nguyên đơn ông Lê Thanh H trình bày: Ông có tham gia của bà Th 01 dây hụi 500.000 đồng mở ngày 15/6/2016 mỗi tháng khui hụi 01 lần có 21 phần, ông tham gia 01 phần, đã đóng đến mãn hụi 20 lần số tiền 7.400.000 đồng. Đến ngày ông hốt hụi thì bà Th đưa ông một khao hụi khác 31 người ông không đồng ý, yêu cầu bà đưa ông số tiền ông hốt chót có được nhưng bà Th hứa lần hứa lựa. Đến ngày 29/6/2018 thì ông hay bà Th bỏ trốn khỏi địa phương. Trước khi đi bà Th còn mua của ông một bao gạo 50kg giá 750.000 đồng nợ chưa trả. Nay ông khởi kiện yêu cầu bà Th trả lại tiền hụi ông đã đóng 7.400.000 đồng và tiền bao gạo 750.000 đồng, tổng cộng 8.150.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Lê Lệ Th là bị đơn đã được triệu tập xét xử phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Th tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông H khởi kiện yêu cầu bà Th trả tiền hụi và tiền mua gạo. Tại phiên tòa, ông H đồng ý rút yêu cầu khởi kiện hợp đồng mua bán gạo do ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của ông H về hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luât tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

Ông H cho rằng có tham gia 01 phần hụi do bà Th làm chủ dây hụi 500.000 đồng có 21 phần ông tham gia 01 phần đã đóng đến mãn hạn hụi 20 lần số tiền 7.400.000 đồng. Bà Th có đưa ông tờ khau hụi có các thông tin số tiền dây hụi, ngày mở, thời gian khui hụi, tiền hoa H, ngày giao tiền hụi khi được hốt, tên và số điện thoại chủ hụi, tên các thành viên tham gia hụi, chữ ký tên và họ tên bà Lê Lệ Th. Bà Th đã được tống đạt hợp lệ thông báo về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không có ý kiến xem như mặc nhiên thừa nhận có nhận tiền góp hụi của ông H. Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu bà Th trả lại tiền hụi đã nộp 7.400.000 đồng là có cơ sở nên được chấp nhận.

[3] Về án phí:

Bà Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ông H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 25 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án,

Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thanh H về hợp đồng mua bán tài sản.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thanh H về hợp đồng góp hụi.

Buộc bà Lê Lệ Th có nghĩa vụ trả cho ông Lê Thanh H 7.400.000 (Bảy triệu bốn trăm nghìn đồng)

Kể từ ngày ông H có đơn yêu cầu thi hành án, bà Th không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 của số tiền chậm thi hành án.

Bà Th phải chịu 372.000 (Ba trăm bảy mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông H 300.000 (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010392 ngày 17/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

Ông H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Th vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 101/2019/DS-ST ngày 11/07/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi và mua bán tài sản

Số hiệu:101/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Phú - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về